Cha đẻ ngôn ngữ lập trình nhận dạng giọng nói qua đời
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv
John McCarthy, cha đẻ của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ lập trình nhận dạng giọng nói đã qua đời ở tuổi 84, ĐH Stanford, nơi GS làm việc đã thông báo về sự ra đi của ông hôm 24/10. John McCarthy được coi là người đặt nền móng cho công nghệ trí tuệ nhân tạo từ năm 1955. Ông nói: “Mọi khía cạn...
John McCarthy, cha đẻ của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ lập trình nhận dạng giọng nói đã qua đời ở tuổi 84, ĐH Stanford, nơi GS làm việc đã thông báo về sự ra đi của ông hôm 24/10.
John McCarthy được coi là người đặt nền móng cho công nghệ trí tuệ nhân tạo từ năm 1955. Ông nói: “Mọi khía cạnh học hỏi hay bất kỳ đặc tính thông minh đều có thể được máy tính mô phỏng chính xác”.
John McCarthy
McCarthy là người có công sáng lập phòng thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo thông minh tại Viện Khoa học Công nghệ Masachuset và ĐH Stanford.
Năm 1958, MacCarthy phát minh ra ngôn ngữ lập trình Lisp, mở đường phát triển công nghệ nhận dạng giọng nói trong đó có Siri, một ứng dụng trên iPhone mới nhất.
MacCarthy đồng thời cũng là người phát triển khái niệm Phân chia theo thời gian cho phép nhiều người dùng cùng truy cập một máy tính. Đây được coi là nền tảng của công nghệ điện toán đám mây ngày nay.
McCarthy đã theo học ngành toán học tại Viện công nghệ California. Ông nhận bằng tiến sỹ toán học năm 1951 và trở thành GS tại ĐH Princeton tới năm 1953. Sau đó ông đã làm việc tại MIT, ĐH Dartmouth và ĐH Stanford.
“Ông là người thẳng thắn, tử tế và hào phóng đặc biệt đối với các sinh viên. Ông ấy luôn tập trung vào tương lai, luôn luôn phát minh”, Ed Feigenbaum, một đồng nghiệp của McCarthy tại ĐH Standford nói.
Trong suốt sự nghiệp, McCarthy đã giành được một số giải thưởng như: Giải A.M.Turing năm 1971, một giải thưởng cao nhất về khoa học máy tính; giải Kyoto năm 1988 và được nhận Huân chương Khoa học Quốc gia năm 1990.
John McCarthy, người thường được gọi là cha đẻ của trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ lập trình Lisp, đã qua đời ở tuổi 84. Đại học Stanford, nơi ông từng làm việc, thông báo về sự ra đi của giáo sư vào ngày 24 tháng 10. Sự kiện này khép lại cuộc đời của một nhà khoa học có ảnh hưởng sâu rộng đến cách con người hình dung về máy tính thông minh.
Từ năm 1955, McCarthy đã góp phần đặt nền móng cho lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, khi đưa ra quan điểm táo bạo về khả năng của máy móc. Ông cho rằng mọi khía cạnh của việc học hỏi, cũng như bất kỳ đặc tính thông minh nào, đều có thể được máy tính mô phỏng chính xác. Tư tưởng ấy mở ra hướng nghiên cứu mới, biến trí tuệ nhân tạo từ ý tưởng giàu tính tưởng tượng thành một lĩnh vực khoa học nghiêm túc.
McCarthy là một trong những người sáng lập các phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo tại Viện Công nghệ Massachusetts và Đại học Stanford. Những trung tâm này sau đó trở thành nơi quy tụ nhiều nhà nghiên cứu, thúc đẩy hàng loạt công trình về máy móc, phần mềm và khả năng suy luận. Di sản của ông vì thế không chỉ nằm trong những chương trình cụ thể, mà còn hiện diện qua cộng đồng khoa học do ông góp phần hình thành.
Năm 1958, McCarthy phát minh ngôn ngữ lập trình Lisp, công cụ nhanh chóng giữ vai trò quan trọng trong nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. Lisp mở đường cho nhiều hướng phát triển liên quan đến nhận dạng giọng nói, lĩnh vực về sau xuất hiện trong những ứng dụng quen thuộc như Siri trên iPhone. Với người dùng hiện đại, khả năng nói chuyện cùng thiết bị di động phần nào bắt nguồn từ những nền tảng được xây dựng nhiều thập kỷ trước.
Một đóng góp khác của McCarthy là phát triển khái niệm phân chia theo thời gian, cho phép nhiều người cùng truy cập một máy tính. Ý tưởng này giúp tài nguyên tính toán được sử dụng linh hoạt hơn, thay vì phục vụ riêng lẻ từng người vào từng thời điểm. Khái niệm ấy được xem là nền tảng quan trọng của điện toán đám mây, công nghệ hiện nay cung cấp sức mạnh xử lý qua mạng.
Con đường học thuật của McCarthy bắt đầu từ toán học, ngành ông theo học tại Viện Công nghệ California. Ông nhận bằng tiến sĩ toán học năm 1951, sau đó trở thành giáo sư tại Đại học Princeton và làm việc tại đây đến năm 1953. Về sau, ông tiếp tục công tác tại Viện Công nghệ Massachusetts, Đại học Dartmouth và Đại học Stanford, nơi gắn bó lâu dài với sự nghiệp của ông.
Đồng nghiệp Ed Feigenbaum tại Đại học Stanford nhớ McCarthy như một người thẳng thắn, tử tế và đặc biệt hào phóng với sinh viên. Theo Feigenbaum, ông luôn hướng sự chú ý về tương lai, đồng thời không ngừng tìm tòi và phát minh trong suốt sự nghiệp. Hình ảnh ấy cho thấy phía sau những ý tưởng lớn là một nhà giáo sẵn sàng khuyến khích thế hệ trẻ tiếp tục đặt câu hỏi.
Những đóng góp của McCarthy được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng danh giá trong khoa học và công nghệ. Năm 1971, ông nhận Giải A.M. Turing, giải thưởng được xem là một trong những vinh dự cao nhất của ngành khoa học máy tính. Ông tiếp tục nhận Giải Kyoto năm 1988 và Huân chương Khoa học Quốc gia năm 1990, để lại dấu ấn bền vững trong lịch sử trí tuệ nhân tạo.