Bỏ qua điều hướng
•

Chi phí cao làm khó hàng vào siêu thị

Chi phí cao làm khó hàng vào siêu thị
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Gánh nặng chiết khấu và các loại phí khiến nhiều hàng hóa đưa vào hệ thống siêu thị không mang lại hiệu quả, lợi nhuận.

Chi phí quá cao

Nhớ lại thời điểm này năm trước, một doanh nghiệp có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao tại TP.HCM vẫn còn ấm ức kể lại: Để đưa được hàng hóa vào siêu thị không hề đơn giản, ngoài việc đáp ứng các tiêu chí chất lượng, các loại giấy tờ chứng nhận còn phải có chiết khấu cho hệ thống phân phối và những khoản chi phí ngoài hợp đồng. Áp lực chi phí đặc biệt lớn vào dịp Tết Nguyên đán, khi các hệ thống bán lẻ tổ chức chương trình quảng bá, giới thiệu hàng tết, phát hành catalogue và xây dựng danh mục sản phẩm cho giỏ quà tết.

Chi phí cao làm khó hàng vào siêu thị- Ảnh 1.

Nhà cung cấp phải chịu nhiều chi phí khi đưa hàng vào siêu thị

ẢNH: QUANG THUẦN TẠO BẰNG AI

"Để một mã hàng được đưa vào chương trình bán hàng tết hoặc catalogue giới thiệu sản phẩm, có trường hợp phải chi từ 15 - 20 triệu đồng, thậm chí 30 triệu đồng; nhưng có những chương trình, số tiền còn cao hơn nhiều", đại diện doanh nghiệp phản ánh.

Điều khiến doanh nghiệp bức xúc là việc chi tiền để tham gia chương trình bán hàng không đồng nghĩa với cam kết về doanh số tiêu thụ. Nếu hàng bán chậm, nhà cung cấp vẫn có thể phải chịu thêm chi phí vận chuyển, tồn kho và xử lý hàng trả lại, tùy điều khoản hợp đồng. Tình trạng này tạo áp lực đặc biệt lớn đối với những nhà sản xuất quy mô nhỏ và vừa, vốn đã gặp khó khăn về dòng tiền và khả năng tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại.

Đưa được hàng vào siêu thị rồi, nhà cung cấp vẫn chưa thể thở phào nhẹ nhõm vì đặc thù của hệ thống phân phối offline là vị trí trưng bày, tầm nhìn thuận tiện của quầy kệ. Quá trình trưng bày, sắp xếp hàng hóa tại quầy kệ cũng phát sinh thêm những chi phí ngoài dự kiến.

Chi phí cao làm khó hàng vào siêu thị- Ảnh 2.

Nhà cung cấp phải chịu nhiều chi phí khi đưa hàng vào siêu thị

ẢNH: T.L

Ông M.Q.B, giám đốc một doanh nghiệp sản xuất rượu vang đạt chứng nhận OCOP 4 sao, bày tỏ: Những sản phẩm đã được chứng nhận OCOP, dù được nhà nước khuyến khích phát triển và hỗ trợ quảng bá, vẫn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận hệ thống bán lẻ hiện đại. Đáng nói việc có chứng nhận OCOP không đồng nghĩa sản phẩm được giảm chi phí đưa hàng vào siêu thị hoặc được ưu tiên trưng bày tại những vị trí dễ nhận diện. Các thủ tục để đưa được hàng vào siêu thị vẫn rất khó khăn. Tại một số quầy hàng, sản phẩm OCOP được bố trí xen lẫn với hàng hóa khác, thiếu sự phân biệt rõ ràng về nhận diện hoặc thông tin giới thiệu giá trị sản phẩm. Trong khi hàng OCOP phải đầu tư nhiều hơn, giá thành cao hơn nhưng người mua không nhận diện được sự khác biệt.

Áp lực tài chính với nhà sản xuất

Bà Văn Thị Thảo, giám đốc một doanh nghiệp sản xuất đồ uống đóng hộp, nói: "Tôi đã đưa hàng vào một số thị trường nước ngoài, mức độ kiểm định và xét duyệt chất lượng sản phẩm còn khó khăn hơn trong nước, nhưng chính sách của họ rất rõ ràng và minh bạch. Khi đáp ứng được các yêu cầu, doanh nghiệp chủ yếu thương lượng về giá cung cấp và các điều kiện thương mại. Những chương trình marketing hoặc khuyến mãi bổ sung được thỏa thuận riêng tùy từng thời điểm. Một số hệ thống bán lẻ nước ngoài còn chủ động giới hạn số lượng nhà cung cấp trong từng nhóm sản phẩm để tránh cạnh tranh quá mức giữa những mặt hàng tương tự. Trong khi đó, tại VN, một số quầy hàng có quá nhiều thương hiệu cùng cạnh tranh. Ví dụ như kệ nước mắm, hay cà phê có thể có đến hàng chục nhãn hàng. Việc đưa quá nhiều sản phẩm tương tự lên cùng quầy kệ có thể khiến doanh số bị phân tán, nhà sản xuất khó thu hồi chi phí đầu tư và hệ thống bán lẻ cũng khó xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả cho từng nhóm hàng".

Chi phí cao làm khó hàng vào siêu thị- Ảnh 3.

Chi phí 'không tên' khi đưa hàng hóa lên quầy kệ khiến gánh nặng đè lên vai nhà cung cấp và người tiêu dùng

ẢNH: T.L

Trả lời PV Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp nông nghiệp nhiệt đới, nhìn nhận: Các khoản chiết khấu, vận chuyển, lưu kho, quảng cáo, khuyến mãi và trưng bày là một phần của hoạt động phân phối thương mại. Tuy nhiên, khi những khoản chi này cộng dồn với các chi phí ngoài hợp đồng mà doanh nghiệp phản ánh, áp lực tài chính đối với nhà sản xuất có thể tăng đáng kể. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp phải bỏ ra hàng trăm triệu đồng để sản phẩm được đưa vào hệ thống nhưng không có cơ chế chia sẻ rủi ro tiêu thụ phù hợp, việc mở rộng kênh phân phối có thể không mang lại lợi nhuận như kỳ vọng, cuối cùng dẫn đến việc nhà sản xuất chán nản và không muốn vào siêu thị nữa. Bởi cuối cùng, điều họ cần không đơn thuần là có mặt trên kệ siêu thị, mà là bán được hàng, thu hồi vốn và tạo ra lợi nhuận để tiếp tục đầu tư sản xuất. Nếu chi phí tiếp cận thị trường quá lớn, trong khi rủi ro tiêu thụ chủ yếu do nhà sản xuất gánh chịu, mục tiêu phát triển hàng Việt và mở rộng hệ thống phân phối hiện đại sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn.

"Có những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tốt, giá cạnh tranh nhưng không chấp nhận mức chiết khấu cao thì khó đưa hàng vào siêu thị. Ngược lại, có những sản phẩm chất lượng không thực sự nổi bật nhưng nhờ đáp ứng các yêu cầu về chiết khấu lại được lựa chọn. Đây là thực trạng cần được xem xét và chấn chỉnh", ông Mười nêu vấn đề.

Theo ông Nguyễn Văn Mười, nếu hệ thống phân phối xây dựng được cơ chế thu mua công bằng, minh bạch, đánh giá đúng chất lượng và giá trị sản phẩm, doanh nghiệp sản xuất sẽ có động lực nâng cao chất lượng, giảm giá thành và đầu tư phát triển sản phẩm. Khi đó, cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng đều được hưởng lợi. Một trong những giải pháp được ông Nguyễn Văn Mười đề xuất là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào hoạt động tiếp nhận, thẩm định và lựa chọn nhà cung cấp. Theo đó, các doanh nghiệp có nhu cầu đưa hàng vào siêu thị cần được đăng ký hồ sơ trực tuyến trên một hệ thống thống nhất. Toàn bộ giấy phép kinh doanh, chứng nhận chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và những hồ sơ pháp lý liên quan phải được cập nhật đầy đủ. Khi doanh nghiệp đã đáp ứng các điều kiện theo quy định, hồ sơ cần được tiếp nhận, đánh giá theo những tiêu chí rõ ràng và có thể kiểm tra, giám sát. Cách làm này sẽ hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải nhiều lần trực tiếp gặp nhân viên thu mua, bổ sung hồ sơ theo những yêu cầu thiếu thống nhất hoặc phải tìm kiếm các mối quan hệ để được xem xét đưa hàng vào hệ thống.

Bên cạnh việc số hóa quy trình, ông Nguyễn Ngọc Luận, đơn vị sáng lập và sở hữu thương hiệu cà phê nông sản Meet More, cũng cho rằng các doanh nghiệp bán lẻ cần thay đổi cách quản lý nhân sự, đặc biệt là những vị trí có quyền quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn nhà cung cấp. Mục tiêu là không để quyền quyết định tập trung quá lâu vào một cá nhân, từ đó hạn chế nguy cơ hình thành các mối quan hệ lợi ích, sự phụ thuộc của nhà cung cấp hoặc những hành vi lạm dụng vị trí công việc.

Cần nghiên cứu cơ chế giới hạn mức chiết khấu và xác định rõ những loại phí mà hệ thống bán lẻ được phép thu từ nhà cung cấp, nhằm hạn chế tình trạng đơn vị phân phối có lợi thế thương lượng áp đặt những điều kiện bất lợi cho doanh nghiệp sản xuất. Nếu những khoản chi phí này không được kiểm soát hợp lý, doanh nghiệp sản xuất sẽ phải tính toán đưa vào giá bán, cắt giảm lợi nhuận hoặc giảm chi phí sản xuất. Cuối cùng, những bất cập trong chuỗi phân phối có thể ảnh hưởng đến cả người sản xuất và người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp nông nghiệp nhiệt đới

Việc đưa hàng hóa vào các hệ thống siêu thị đang tạo gánh nặng tài chính lớn cho nhiều doanh nghiệp sản xuất trong nước. Bên cạnh tiêu chuẩn chất lượng khắt khe và tỷ lệ chiết khấu cao, nhà cung cấp phải gánh thêm nhiều khoản chi phí ngoài hợp đồng cùng phí tham gia các chương trình xúc tiến bán hàng. Điển hình vào mùa kinh doanh Tết Nguyên đán, chi phí để đưa một mã hàng vào danh mục giỏ quà hoặc catalogue quảng bá có thể dao động từ 15 đến 30 triệu đồng, thậm chí cao hơn. Áp lực này đè nặng lên các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ khi siêu thị không đi kèm cam kết về sản lượng tiêu thụ thực tế. Nếu hàng bán chậm, doanh nghiệp tiếp tục chịu rủi ro về tồn kho, phí vận chuyển và hàng trả lại. Theo phản ánh của ông M.Q.B, giám đốc một doanh nghiệp rượu vang OCOP 4 sao, chứng nhận OCOP không giúp sản phẩm được giảm chi phí đầu vào hay ưu tiên vị trí trưng bày, khiến hàng hóa giá trị cao dễ bị chìm lấp trên quầy kệ. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, bà Văn Thị Thảo, giám đốc một doanh nghiệp sản xuất đồ uống đóng hộp, nhận định các hệ thống bán lẻ nước ngoài vận hành minh bạch hơn về mặt cơ chế. Dù kiểm định chất lượng nghiêm ngặt, đối tác ngoại tập trung đàm phán dựa trên giá cung ứng và các điều kiện thương mại rõ ràng, thay vì phát sinh chi phí khó dự liệu. Thực tế này đòi hỏi kênh bán lẻ hiện đại trong nước cần xây dựng chính sách phân phối chuẩn mực nhằm nuôi dưỡng nguồn hàng nội địa bền vững.
amung