Bỏ qua điều hướng
•

Chìa khóa để nông nghiệp vươn ra thế giới

Chìa khóa để nông nghiệp vươn ra thế giới
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong quá trình hội nhập quốc tế, các tiêu chuẩn nông sản ngày càng khắt khe, đòi hỏi nâng cao chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Việc triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ đáp ứng yêu cầu xuất khẩu mà còn thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo hướng minh bạch, bền vững, nâng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Năm 2026, xuất khẩu nông sản tiếp tục đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật, nhất là tại các thị trường có tiêu chuẩn cao như Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm hệ thống hóa việc cấp và quản lý mã số vùng trồng. Cốt lõi của việc này không đơn thuần là thủ tục hành chính, mà là tổ chức lại sản xuất, lấy mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói làm cơ sở truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm và tăng liên kết sản xuất-tiêu thụ.

Từ phổ biến quy định sang đồng hành thực tiễn

Theo PGS, TS Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, khuyến nông không thay cơ quan quản lý trong việc cấp mã, mà đóng vai trò “bà đỡ”, đưa chính sách vào thực tiễn. Trung tâm tập trung đào tạo từ cán bộ cấp tỉnh đến cộng đồng; hướng dẫn nông dân, hợp tác xã ghi chép, truy xuất nguồn gốc, sử dụng nền tảng số và kết nối các tác nhân trong chuỗi sản xuất.

Sự chuyển hướng của khuyến nông thể hiện ở ba nội dung: Từ “được cấp mã số” sang “duy trì mã số”, với yêu cầu tuân thủ quy trình sản xuất, cập nhật nhật ký và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tại từng vùng trồng, từng thời điểm; từ quản lý hồ sơ sang quản lý chuỗi dữ liệu, kết nối thông tin từ thửa ruộng đến cơ sở đóng gói để bảo đảm truy xuất có kiểm chứng; từ “phổ biến quy định” sang “hướng dẫn thực hành”, chuyển các yêu cầu pháp lý thành hướng dẫn, bảng kiểm và mẫu biểu ngắn gọn, sinh động, dễ áp dụng.

Trong năm 2026, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã tổ chức 12 lớp đào tạo cho hơn 500 lượt cán bộ, nông dân tại Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng; biên soạn cẩm nang hướng dẫn đăng ký, thực hiện và duy trì mã số; tập trung tháo gỡ những khó khăn về ghi chép nhật ký, quản lý hồ sơ số và cập nhật chính sách cho các đối tượng trong chuỗi sản xuất. Hiệu quả của cách làm mới thể hiện ở nhận thức của người sản xuất, từ coi mã số vùng trồng là thủ tục giấy tờ sang xem đây là công cụ tổ chức sản xuất minh bạch, có thể kiểm chứng. Việc kết hợp nhóm giảng viên nguồn với lực lượng khuyến nông cộng đồng cũng giúp mở rộng tác động đến từng hộ nông dân, hợp tác xã.

Liên kết các bên để giữ chìa khóa xuất khẩu

Gia Lai là một trong những tỉnh trọng điểm, được Trung ương lựa chọn thí điểm triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sớm và bài bản nhất trên cả nước. Đến tháng 9, toàn tỉnh có 57/61 xã, phường ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo triển khai và 42 xã, phường thành lập tổ công tác. Tỉnh đã rà soát, thu thập dữ liệu trên 7.350 ha cà-phê với 5.205 hộ và gần 970 ha sầu riêng với 712 hộ để phục vụ cấp mã số vùng trồng. Tinh thần “Thị trường dẫn dắt-Khuyến nông đồng hành-Nông dân là chủ thể-Dữ liệu kết nối chuỗi” đang được cụ thể hóa trong triển khai thực tế.

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Nafoods Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ: “Một lô hàng vi phạm quy trình, dư lượng sẽ khiến mã số vùng trồng không còn giá trị. Chúng tôi xác định chỉ có thể bảo đảm đầu ra ổn định khi tham gia xuyên suốt chuỗi, từ chọn giống, tổ chức vùng nguyên liệu, áp dụng công nghệ số, kiểm tra truy xuất sát thực tiễn”. Mô hình của Nafoods gồm bốn trụ cột: Nhà máy chế biến tại chỗ với dây chuyền cấp đông sầu riêng nguyên quả, cấp đông múi và kho lạnh 4.000 tấn; vùng nguyên liệu liên kết với 2.834 hộ, diện tích 2.742 ha, tổ chức thành 35 hợp tác xã và doanh nghiệp vùng trồng; đội ngũ kỹ thuật viên bám vườn, thực hiện gần 1.000 lượt thăm vườn mỗi tháng và hướng dẫn ghi nhật ký điện tử; hệ thống phần mềm quản lý vùng trồng, định danh từng thửa đất, truy xuất từng lô hàng, duy trì hồ sơ mã số, cảnh báo vi phạm và xuất báo cáo phục vụ kiểm tra, truy xuất cho khách hàng nhập khẩu khi cần.

Trong chín tháng đầu năm 2026, hệ thống này giúp kiểm soát 38.000 tấn trái tươi đưa vào nhà máy, thay cho việc chỉ quản lý danh sách vùng trồng trên giấy. Mỗi hợp tác xã tham gia được hỗ trợ kỹ thuật, vật tư đầu vụ và ưu tiên thu mua khi cam kết tuân thủ việc nhập liệu, thực hiện quy trình kiểm soát theo tiêu chuẩn quốc tế. Mô hình đang được mở rộng từ chanh leo sang sầu riêng và cà-phê.

Ông Nguyễn Anh Quý sản xuất chanh dây trên diện tích 1,5 ha tại làng Ngol, xã Đăk Đoa, cho biết: Trước đây, tôi chịu nhiều rủi ro do thị trường biến động, ghi chép loay hoay toàn giấy tờ không nhớ được, cây bệnh cũng không biết hỏi ai. Hai năm qua, Công ty Nafoods hỗ trợ cây giống, kỹ thuật và thường xuyên cử nhân viên đến vườn; khi có sự cố, được xử lý kịp thời. Sản phẩm cũng được nhà máy bao tiêu với giá từ 8.000-18.000 đồng/kg, hồ sơ được quản lý minh bạch.

Các hợp tác xã như Hợp tác xã Vũ Nam với 430 ha, 240 hộ, sản lượng 7.500 tấn chanh leo/năm, đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm dư lượng của châu Âu và Mỹ; Hợp tác xã Ia Mơ Nông với 800 ha, 600 hộ và sáu mã số vùng trồng cho thấy việc ghi chép nhật ký canh tác thường xuyên, duy trì kỷ luật nội bộ là điều kiện quan trọng để giữ mã số qua nhiều vụ.

Mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ đáp ứng yêu cầu xuất khẩu mà còn thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo hướng minh bạch, bền vững; bảo đảm quyền lợi của nông dân, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm. Vì thế, đổi mới hoạt động khuyến nông, đẩy mạnh số hóa và tăng liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân đang tạo nền tảng để nông sản Việt Nam đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường lớn.

PHÚC THẮNG

Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật khắt khe từ các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, việc cấp mã số vùng trồng cùng cơ sở đóng gói đã trở thành yêu cầu sống còn. Đây không đơn thuần là thủ tục hành chính mà là bước chuyển chiến lược nhằm tổ chức lại sản xuất theo hướng minh bạch, lấy dữ liệu làm cơ sở truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm. Thông qua việc nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, nông sản Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế. Đóng vai trò người đồng hành đưa chính sách vào thực tiễn, Trung tâm Khuyến nông quốc gia dưới sự dẫn dắt của PGS, TS Lê Quốc Thanh đã chuyển hướng mạnh mẽ từ phổ biến quy định sang hướng dẫn thực hành và quản lý chuỗi dữ liệu. Trong năm 2026, đơn vị đã tổ chức 12 lớp đào tạo cho hơn 500 lượt cán bộ và nông dân tại Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng để chuẩn hóa việc ghi chép nhật ký cũng như quản lý hồ sơ số. Nhờ sự kết hợp giữa lực lượng chuyên trách với khuyến nông cộng đồng, người sản xuất đã thay đổi nhận thức, xem mã số vùng trồng là công cụ tổ chức sản xuất minh bạch có thể kiểm chứng. Là một trong những địa phương thí điểm sớm và bài bản nhất, tỉnh Gia Lai đã cụ thể hóa tinh thần lấy thị trường dẫn dắt và dữ liệu kết nối chuỗi vào thực tiễn sản xuất. Đến tháng 9, toàn tỉnh có 57 trên 61 xã, phường ban hành văn bản chỉ đạo, đồng thời hoàn thành rà soát dữ liệu cho 7.350 ha cà-phê của 5.205 hộ và gần 970 ha sầu riêng của 712 hộ. Sự chủ động liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và nông dân chính là chìa khóa then chốt giúp nông sản Việt Nam tự tin vươn rộng ra thị trường toàn cầu.