Các ý kiến được nêu tại thảo luận tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) chiều 24/10.
Tiểu thương không thể tự gánh an toàn cho cả chợ
Tham gia góp ý dự thảo luật, đại biểu Phạm Thị Thu Thuỷ (Thái Nguyên) nêu rõ những bất cập từ thực tiễn giám sát tại địa phương về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại chợ truyền thống.
Bà cho biết toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 140 chợ đang hoạt động, trong đó có 126 chợ hạng 3. Nhiều chợ đã xuống cấp, chưa có hệ thống xử lý nước thải, khu vực kinh doanh thực phẩm chưa được phân chia hợp lý dẫn đến nguy cơ lây nhiễm chéo. Hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm tại chợ vẫn nhỏ lẻ, việc vận chuyển và kiểm soát nguồn gốc đầu vào còn hạn chế.
Đại biểu Phạm Thị Thu Thủy (Thái Nguyên) (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Theo bà Thủy, dự thảo luật quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với từng cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, tươi sống, nhưng chưa làm rõ trách nhiệm của tổ chức quản lý, khai thác chợ.
"Từng hộ có thể giữ sạch quầy hàng của mình, sử dụng dụng cụ phù hợp, bảo quản thực phẩm đúng cách. Nhưng việc cấp thoát nước, thu gom chất thải hay bố trí khu vực kinh doanh thực phẩm sống, chín tách biệt phải được tổ chức trên phạm vi cả chợ. Đây là những điều kiện mà mỗi hộ kinh doanh không thể tự mình quyết định được", bà Thủy phân tích.
Từ thực tế này, đại biểu kiến nghị luật cần bổ sung quy định rõ trách nhiệm của tổ chức quản lý chợ về hạ tầng, vệ sinh, kiểm tra chấp hành an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, cần quy định cụ thể trách nhiệm của chính quyền địa phương trong kiểm tra, gắn liền với việc bố trí nguồn lực cải tạo, nâng cấp mạng lưới chợ dân sinh.
Bịt lỗ hổng từ lò mổ nhỏ lẻ đến mâm cỗ lưu động
Nhìn nhận toàn diện chuỗi cung ứng, đại biểu Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thuỷ sản Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng an toàn thực phẩm phải được quản lý xuyên suốt "từ chuồng nuôi, ao nuôi, đồng ruộng đến bàn ăn", không thể chỉ cắt khúc từ đoạn chế biến hay tiêu thụ. Trong khi đó, nền sản xuất nông nghiệp trong nước hiện vẫn chủ yếu là nhỏ lẻ, với chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm khoảng 50%.
Ông Tiến dẫn số liệu cả nước hiện có khoảng 24.600 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, trong khi số cơ sở giết mổ tập trung chỉ có 460. Nhiều địa phương chưa phát huy được mô hình giết mổ tập trung; tình trạng giết mổ ngay trên nền đất trải bạt, sử dụng nước giếng khoan, thậm chí múc nước ao để rửa thịt vẫn diễn ra, dẫn tới nguy cơ nhiễm khuẩn E.coli và kim loại nặng. Thịt sau giết mổ nhiều nơi vẫn vận chuyển bằng xe máy không che chắn trên đường trước khi đưa về chợ.
Đại biểu Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Bên cạnh nguy cơ từ khâu giết mổ, bà Phạm Thị Thu Thủy lưu ý thêm một "khoảng trống" khác là loại hình dịch vụ nấu ăn lưu động phục vụ đám cưới, tiệc liên hoan đông người.
Điểm đặc thù của loại hình này là nơi sơ chế, chế biến và phục vụ có thể nằm ở các địa điểm khác nhau; nguồn nước sạch và điều kiện bảo quản phụ thuộc hoàn toàn vào gia chủ. Thậm chí, nhiều cơ sở từ địa phương khác đến nấu nướng rồi rời đi, gây khó khăn lớn cho công tác kiểm tra, truy xuất khi xảy ra sự cố ngộ độc.
Bà Thủy đề nghị luật cần xác định rõ trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ trong suốt quá trình từ chọn nguyên liệu, vận chuyển, chế biến đến lưu mẫu thức ăn; đồng thời thiết lập cơ chế trao đổi thông tin thuận tiện giữa địa phương nơi đăng ký kinh doanh và nơi thực tế phục vụ bữa ăn.
Cấp xã khó gánh nếu thiếu nhân lực và kinh phí
Trước việc dự thảo luật đẩy mạnh phân cấp quản lý về cơ sở, cả hai đại biểu đều bày tỏ băn khoăn về tính khả thi khi bộ máy cấp xã đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực chuyên môn.
Đại biểu Phùng Đức Tiến cho rằng dự thảo đang phân công cho cấp xã quá nhiều nhiệm vụ.
"Hiện nay lực lượng thú y cơ sở nhiều nơi không còn, một số tỉnh giải thể chi cục chỉ còn cấp phòng, biên chế liên tục tinh giản. Vài cán bộ chạy từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh thì chứng nhận giết mổ làm sao được?", ông Tiến nêu thực tế.
Vị đại biểu này cũng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát phải kết hợp chặt chẽ cả tiền kiểm và hậu kiểm, thay vì chỉ dồn trọng tâm vào hậu kiểm. "Hậu kiểm khi thực phẩm đã xảy ra ngộ độc rồi thì ít tác dụng", ông nói.
Với các yêu cầu về chuẩn hóa thiết bị bảo quản hay chuyển đổi số cho cơ sở nhỏ lẻ, ông Tiến đề nghị luật phải xây dựng lộ trình thực chất, phù hợp nguồn lực, "không thể cứ viết vào luật cho tròn bài".
Đồng tình với quan điểm trên, bà Phạm Thị Thu Thủy đề nghị luật phải phân định rành mạch: việc gì cấp xã trực tiếp làm, việc gì cấp tỉnh phải hỗ trợ hoặc trực tiếp chủ trì xử lý (nhất là các vụ việc liên quan nhiều địa bàn).
Bà Thủy kiến nghị cần có cơ chế đảm bảo kinh phí lấy mẫu, kiểm nghiệm và phân công cơ quan đầu mối kỹ thuật hỗ trợ cấp xã khi phát hiện thực phẩm nghi ngờ mất an toàn hoặc khi giám sát các bếp ăn trường học.
Ngoài ra, cần thiết lập hệ thống liên thông dữ liệu giữa ngành y tế (nơi tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm) và các cơ quan quản lý chuyên ngành nông nghiệp, công thương để tránh tình trạng hồ sơ tiếp nhận xong bị "bỏ quên", không thể tổ chức hậu kiểm.