Những đợt mưa lớn kết hợp triều cường cuối tháng 9.2026 đến nay khiến nhiều khu vực tại TP.HCM ngập nước, ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt và đời sống người dân. Trong bối cảnh đô thị còn đối mặt với tình trạng sụt lún, câu chuyện chống ngập không chỉ dừng ở việc xử lý các điểm ngập trước mắt, mà còn đặt ra yêu cầu đánh giá lại năng lực thực tế của toàn hệ thống thoát nước.
Trao đổi với Báo Thanh Niên, PGS-TS Lê Trung Chơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, phân tích những vấn đề cốt lõi và đề xuất hướng tiếp cận chống ngập dựa trên dữ liệu, quy hoạch và quản trị rủi ro.

PGS-TS Lê Trung Chơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM
ẢNH: NGUYÊN VŨ
* Trong khoảng 10 - 15 năm qua, sụt lún đang làm thay đổi địa hình và năng lực thoát nước của TP.HCM ra sao? Những khu vực nào cần được đặc biệt lưu ý?
PGS-TS Lê Trung Chơn: Ở TP.HCM, sụt lún phân bố rất không đồng đều. Những khu vực cần chú ý gồm một số nơi thuộc khu vực quận 7, quận 8, quận Bình Tân, huyện Nhà Bè cũ và các hành lang ven sông, kênh rạch. Trong các kết quả nghiên cứu giai đoạn 2015 - 2025, có khu vực ghi nhận tốc độ lún khoảng 2 - 5 cm/năm, một số điểm cục bộ khoảng 7 - 8 cm/năm. Đây là các giá trị tại những khu vực và thời kỳ cụ thể, không phải tốc độ lún bình quân của toàn thành phố.
Muốn đánh giá tác động của sụt lún đến tình trạng ngập, cần xem xét cao độ mặt đất trong mối quan hệ với mực nước và khả năng thoát, trữ nước. Khi mặt đất lún xuống, chênh lệch cao độ so với mực nước sông, kênh rạch thay đổi. Nếu lún không đồng đều, độ dốc cống và đường đi của nước cũng có thể biến đổi, hình thành những vùng trũng mới. Khi mưa lớn trùng với triều cao, nước khó thoát ra ngoài, đồng thời có thể dồn về các khu vực thấp hơn, khiến ngập sâu và kéo dài.

Khu vực bờ kè bán đảo Thanh Đa bị sụt lún
ẢNH: NHẬT THỊNH
Kế hoạch 537 ngày 2.10.2026 của UBND TP.HCM đã đề cập tình trạng cống mất độ dốc do sụt lún. Trong phụ lục phân công nhiệm vụ, thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường triển khai các giải pháp ứng phó, hạn chế sụt lún, trong đó có giảm khai thác nước dưới đất và phân vùng hạn chế khai thác, với mốc thực hiện trong năm 2026.
Những giải pháp này cần gắn với công tác quan trắc, cập nhật cao độ thực tế của hệ thống thoát nước. Một hệ thống đáp ứng yêu cầu khi xây dựng vẫn có thể suy giảm năng lực sau nhiều năm nếu địa hình và điều kiện thủy văn đã thay đổi.
* Muốn chống ngập hiệu quả, vì sao TP.HCM cần đánh giá lại năng lực thực tế của toàn hệ thống thoát nước trước khi xác định giải pháp và thứ tự đầu tư?
- Thành phố cần chuyển tư duy từ chống ngập từng điểm sang thích ứng và nâng cao năng lực hồi phục của đô thị. Thích ứng là điều chỉnh quy hoạch, hạ tầng và vận hành theo sự thay đổi của mưa, triều, sụt lún và phát triển đô thị. Khả năng hồi phục thể hiện ở việc giảm thiệt hại, duy trì các chức năng thiết yếu và khôi phục nhanh hoạt động của thành phố sau một đợt ngập.
Việc cần làm ngay là khảo sát và đánh giá toàn diện, định lượng thực trạng và năng lực hạ tầng thoát nước đô thị TP.HCM. Phải biết hệ thống hiện hữu thực sự thu, dẫn, trữ và tiêu thoát được bao nhiêu nước, trong những điều kiện mưa, triều, sụt lún và vận hành nào; thiếu hụt ở đâu và do nguyên nhân gì. Đây là bước chẩn đoán làm căn cứ lựa chọn giải pháp và dự kiến hiệu quả đầu tư.

Người dân TP.HCM mệt mỏi với những trận ngập sau mưa lớn những ngày đầu tháng 10.2026
ẢNH: NHẬT THỊNH
Kế hoạch 537 đã nêu yêu cầu đánh giá hiện trạng, phân tích nguyên nhân gốc rễ và xác định ưu tiên đầu tư. Tuy nhiên, trong phụ lục kèm theo, yêu cầu này chưa được chuyển thành một nhiệm vụ khảo sát, đo đạc và đánh giá định lượng toàn hệ thống với phạm vi, sản phẩm kỹ thuật và tiêu chí nghiệm thu rõ ràng.
Hạ tầng thoát nước của thành phố cũng cần được "khám sức khỏe" bài bản như con người. Muốn chữa bệnh thì phải khám bệnh, xác định đúng bệnh rồi mới có phác đồ điều trị và kết quả dự kiến. Trong bài toán đô thị, hồ sơ thiết kế và quy hoạch không đủ để xác định năng lực hiện hữu của một hệ thống đã thay đổi qua nhiều năm. Cơ sở dữ liệu cũng phải được xây dựng từ hiện trạng đã khảo sát, đo đạc và kiểm chứng.
Hạ tầng thoát nước của thành phố cũng cần được "khám sức khỏe" bài bản như con người. Muốn chữa bệnh thì phải khám bệnh, xác định đúng bệnh rồi mới có phác đồ điều trị và kết quả dự kiến.
PGS-TS Lê Trung ChơnNăm bước "khám sức khỏe" hệ thống thoát nước
* Vậy TP.HCM cần thực hiện những bước nào để "khám sức khỏe" toàn hệ thống thoát nước, xác định đúng điểm nghẽn và xây dựng phương án chống ngập có căn cứ khoa học?
- Theo tôi, thành phố cần xác định rõ nhiệm vụ "khám sức khỏe" hệ thống thoát nước và triển khai theo 5 bước.
Đầu tiên là đo đạc, khảo sát toàn bộ hệ thống thu - dẫn - trữ - thoát nước, bao gồm miệng thu, hố ga, cống, kênh rạch, hồ điều tiết, cửa xả, cống ngăn triều, trạm bơm và các công trình liên quan. Cần xác định cao độ mặt đất, đáy cống và cửa xả; kích thước, độ dốc, kết nối, tình trạng bồi lắng, hư hỏng, dung tích trữ và chế độ vận hành thực tế. Hồ sơ thiết kế là tài liệu đối chiếu, không mặc nhiên đại diện cho hiện trạng.

Chuyên gia cho rằng TP.HCM cần "khám sức khỏe" toàn bộ hệ thống thoát nước trước khi xác định thứ tự đầu tư dự án chống ngập
ẢNH: SỸ ĐÔNG
Thứ hai, cần xây dựng cơ sở dữ liệu GIS thống nhất. Liên kết hạ tầng thoát nước với địa hình, biến động cao độ do sụt lún, giao thông, công trình, sử dụng đất và biến động lớp phủ bề mặt. Cơ sở dữ liệu phải thể hiện những tuyến đường, nền công trình hoặc vật cản làm thay đổi đường đi của nước, đồng thời thống nhất hệ tọa độ, hệ độ cao và quan hệ kết nối của mạng. Mỗi đối tượng phải có mã định danh, nguồn dữ liệu, thời điểm cập nhật, chất lượng và đơn vị chịu trách nhiệm cập nhật.
Thứ ba, xây dựng mô hình thủy văn - thủy lực phù hợp. Có thể kết hợp mô hình mạng thoát nước một chiều (1D) với mô hình dòng chảy mặt hai chiều (2D); chỉ sử dụng mô hình ba chiều (3D) ở những khu vực hoặc công trình cần phân tích chi tiết. Việc lựa chọn công nghệ phải gắn với mục tiêu nghiên cứu và khả năng kết nối với mô hình mạng cống, cũng như mô phỏng hoạt động của các công trình. Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là nền tảng tổ chức dữ liệu, chuẩn bị đầu vào và phân tích kết quả mô phỏng.
Thứ tư, hiệu chỉnh, kiểm định và đánh giá năng lực hiện hữu. Việc đánh giá cần sử dụng dữ liệu mưa, triều, mực nước, lưu lượng, trạng thái bơm - cống và diễn biến ngập; kiểm định bằng những sự kiện ngoài tập dữ liệu hiệu chỉnh. Trên mô hình đã kiểm chứng, phải lượng hóa khả năng thu, dẫn, trữ và tiêu thoát nước theo từng tổ hợp điều kiện, xác định điểm nghẽn và mức thiếu hụt theo lưu vực, cùng độ tin cậy của kết quả. Đây mới là cơ sở chẩn đoán, thay vì chỉ liệt kê vị trí ngập.

Kênh Tham Lương - Bến Cát phủ kín cỏ dại, bùn đất làm giảm khả năng tiêu thoát nước
ẢNH: SỸ ĐÔNG
Thứ năm, xây dựng và so sánh các kịch bản thích ứng. Các phương án cần đánh giá thay đổi vận hành, bổ sung trữ nước, cải tạo công trình, kiểm soát mật độ và mặt phủ, kết hợp các tình huống sụt lún, mưa cực đoan, triều và phát triển đô thị. So sánh từng phương án với hiện trạng để xác định mức giảm ngập, giảm thiệt hại, chi phí và rủi ro còn lại. Kịch bản phải được xây dựng từ hệ thống đã khảo sát và mô hình đã kiểm chứng.
Theo tôi, nhiệm vụ khảo sát và đánh giá cần có cơ quan chủ trì, phạm vi toàn hệ thống, kinh phí, thời hạn và tiêu chí nghiệm thu riêng. Thành phố có thể triển khai thành nhiều đợt theo lưu vực, ưu tiên vùng rủi ro cao để sớm tạo căn cứ cập nhật kế hoạch chống ngập.
* Sau khi hoàn tất việc khảo sát và đánh giá, TP.HCM cần có những sản phẩm cụ thể nào để chuyển kết quả nghiên cứu thành công cụ quản lý, vận hành và điều chỉnh chính sách chống ngập?
- Sản phẩm đầu ra tối thiểu phải gồm cơ sở dữ liệu GIS của hạ tầng thoát nước đô thị đã kiểm tra chất lượng, mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định, có khả năng đánh giá năng lực thoát nước hiện hữu và xây dựng được các kịch bản ngập. Song song đó, công tác duy tu, bảo dưỡng, vận hành và ứng cứu sự cố của hệ thống thoát nước hiện hữu vẫn phải tiếp tục thực hiện đồng bộ.
Sau khảo sát ban đầu, cần duy trì quan trắc và cập nhật kết quả đánh giá trên hạ tầng dữ liệu địa không gian (SDI) của thành phố, đồng thời tích hợp và chia sẻ trên Nền tảng bản đồ số dùng chung của TP.HCM theo Quyết định 2251 ngày 15.4.2026 của UBND TP.HCM, tại địa chỉ https://bando.tphcm.gov.vn.
159 điểm ngập ở TP.HCM: Bản đồ 24 tuyến ngập nặng thường xuyên cần lưu ý
TP.HCM cần sớm làm hồ điều tiết chống ngập
* Hồ điều tiết và việc khôi phục không gian nước có thể giúp TP.HCM thích ứng với sụt lún và ngập đô thị đến đâu?
- Hồ điều tiết, khôi phục không gian nước và dành thêm không gian cho kênh rạch giúp tăng khả năng tạm trữ, phân phối và tiêu thoát nước của đô thị. Chúng góp phần thích ứng với tác động của sụt lún, nhưng không tự động ngăn được sụt lún. Việc hạn chế lún còn cần quản lý khai thác nước dưới đất và đánh giá các tác nhân gây biến dạng nền đất.
Hiệu quả của một hồ không chỉ nằm ở diện tích trên bản đồ. Cần phải tính toán dung tích trữ hữu ích, phân tích khả năng tiếp nhận nước, kết nối với mạng thoát nước, mực nước ban đầu và chế độ vận hành khi mưa cực đoan trùng với triều cường… Nếu hồ điều tiết và cửa xả đều nằm trong khu vực đang lún, cao độ và năng lực vận hành cũng phải được xem xét, phân tích và cập nhật định kỳ.

Hồ Bán Nguyệt trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng tạo không gian trữ nước, giảm ngập khi mưa lớn
ẢNH: TRẦN NGUYỄN MINH QUÂN
Theo kế hoạch, TP.HCM phân công Sở Xây dựng bổ sung hồ điều tiết phân tán và hồ điều hòa ngầm dưới các không gian công cộng trong giai đoạn 2028 - 2030, với sản phẩm ở nhiệm vụ này là quy hoạch. Đồng thời, các nhiệm vụ xây dựng hồ theo lưu vực, khôi phục không gian nước do Sở Xây dựng chủ trì, và xây dựng hồ tại vùng trũng, nâng cấp dung tích phòng lũ thượng nguồn do Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, có mốc hoàn thành công trình năm 2030.
Vị trí, dung tích và cách vận hành hồ phải được lựa chọn từ kết quả khảo sát và đánh giá năng lực thực tế của cả lưu vực. Cần tính toán lượng nước phải trữ khi mưa trùng triều cao, đường dẫn nước vào và ra hồ, cùng hiệu quả khi địa hình tiếp tục lún. Việc kiểm kê, bảo vệ và dành quỹ không gian nước cần triển khai ngay từ năm 2026 - 2027, vì nếu tiếp tục thu hẹp những nơi có thể trữ và dẫn nước, thành phố sẽ mất lựa chọn thích ứng.
Bên cạnh đó, quy hoạch cần xác định khu vực nào phải được bảo vệ nghiêm ngặt, nhất là bệnh viện, trạm điện và các tuyến giao thông thiết yếu; khu vực nào có thể tạm chứa nước có kiểm soát khi xuất hiện tình huống vượt năng lực thiết kế. Khi được quy hoạch và vận hành phù hợp, không gian nước giúp giảm thiệt hại, giảm thời gian ngập và hỗ trợ đô thị hồi phục nhanh hơn.
* Với hơn 142.000 tỉ đồng dự kiến đầu tư cho các dự án chống ngập giai đoạn 2026 - 2030, TP.HCM cần dựa vào những tiêu chí nào để chọn đúng dự án, đúng lưu vực và tối đa hóa hiệu quả giảm ngập?
- Theo phần chính của kế hoạch, hơn 142.000 tỉ đồng là tổng mức đầu tư của các nhóm dự án dự kiến hoàn thành giai đoạn 2026 - 2030. Thứ tự ưu tiên phải dựa trên lưu vực và mức độ rủi ro được lượng hóa.
Khu vực lún nhanh, địa hình thấp và nguy cơ ngập gia tăng cần được chú ý, nhưng tốc độ lún không thể là tiêu chí duy nhất. Thành phố cần xem xét đồng thời độ sâu, thời gian và tần suất ngập, số người chịu ảnh hưởng, các nhóm dễ bị tổn thương, tài sản và những chức năng thiết yếu có thể bị gián đoạn.

TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thành 87 dự án chống ngập với tổng mức đầu tư hơn 142.000 tỉ đồng để giải quyết 50 vị trí ngập trong giai đoạn 2026 - 2030
ẢNH: SỸ ĐÔNG
Nước không dừng lại ở ranh giới hành chính mà vận động theo quy luật địa hình và thủy văn của từng lưu vực. Vì vậy, phải đánh giá giải pháp trong cả hệ thống: cải tạo cống, xây cống ngăn triều, bổ sung bơm hay nâng đường ở một nơi có làm tăng rủi ro ở nơi khác không? Công trình có đủ đường dẫn và nơi tiếp nhận nước không? Lợi ích giảm ngập có duy trì được khi mặt đất tiếp tục lún và đô thị tiếp tục phát triển không?
Theo tôi, đánh giá hiệu quả không nên chỉ vào số điểm ngập được xử lý. Thay vào đó, cần đo mức giảm thiệt hại, giảm độ sâu và thời gian ngập, số người được bảo vệ, cùng thời gian khôi phục giao thông, điện, y tế và sinh hoạt sau sự kiện. Đó là cách đưa mục tiêu thích ứng và hồi phục vào quyết định đầu tư.
Dùng công nghệ cảnh báo ngập lụt
* Trong bài toán chống ngập gắn với sụt lún, TP.HCM cần xây dựng nền tảng dữ liệu, mô hình dự báo và hệ thống quan trắc như thế nào để công nghệ thực sự hỗ trợ ra quyết định?
- Công nghệ có thể hỗ trợ dự báo và quản lý ngập, nhưng hệ thống dự báo đáng tin cậy phải bắt đầu từ khảo sát hiện trạng, dữ liệu được kiểm chứng và mô hình phản ánh đúng năng lực hạ tầng thực tế. Trong phụ lục, thành phố yêu cầu hoàn chỉnh FEDS năm 2026, xây dựng cơ sở dữ liệu thoát nước năm 2027 và tiếp tục nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông minh với sản phẩm là báo cáo đề xuất năm 2028.

Nước ngập lênh láng trên đường Nguyễn Văn Khối (phường Thông Tây Hội, TP.HCM)
ẢNH: NHẬT THỊNH
TP.HCM cũng giao Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, nâng cấp quan trắc và cảnh báo phục vụ vận hành thủy lợi trong năm 2026, cùng cơ chế phối hợp liên vùng và quy trình vận hành hồ thượng nguồn. Cần thiết lập chế độ chia sẻ dữ liệu và phối hợp quyết định giữa hệ thống thủy lợi với thoát nước đô thị, để kết quả dự báo phục vụ vận hành cả lưu vực.
Nhóm chúng tôi định hướng thí điểm tại phường Thủ Đức và khu vực lân cận, tập trung kết hợp dữ liệu sụt lún, địa hình, mưa, triều và hệ thống thoát nước để mô phỏng, dự báo nguy cơ ngập. Mục tiêu là xây dựng phương pháp đánh giá đồng bộ, xác định những khu vực có nguy cơ cao và cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch, đầu tư, vận hành hệ thống chống ngập
Kết quả thí điểm cần được kiểm chứng bằng dữ liệu thực tế trước khi xem xét ứng dụng vào công tác quản lý, điều hành của thành phố.
* Từ dữ liệu mưa, triều, mực nước và sụt lún, TP.HCM có thể cảnh báo ngập và hướng dẫn người dân ứng phó theo thời gian thực hay không?
- Người dân cần được tiếp cận thông tin dễ hiểu và có thể chia sẻ vị trí ngập, thời gian, hình ảnh để cơ quan chuyên môn kiểm chứng. Việc cung cấp lộ trình tránh ngập là khả thi khi kết hợp dự báo với tình trạng đường và giao thông được cập nhật, đồng thời thể hiện thời điểm cập nhật và độ tin cậy. Thông tin về độ sâu ngập phải gắn với điều kiện di chuyển thực tế của từng loại phương tiện.
Khảo sát ban đầu tạo căn cứ chẩn đoán, còn quan trắc thường xuyên giúp nhận biết hệ thống đang thay đổi ra sao. Sau mỗi đợt ngập, cần đối chiếu dự báo với thực tế, ghi nhận thiệt hại và thời gian khôi phục hoạt động để cập nhật dữ liệu, mô hình và quyết định. Khi cao độ, mặt phủ hoặc năng lực thoát nước thay đổi, cần xem xét lại quy hoạch, thứ tự đầu tư và cách vận hành. Đó là chuyển từ quản lý đô thị "tĩnh" sang quản trị và điều hành "động" dựa trên dữ liệu.
* Từ câu chuyện chống ngập và sụt lún, TP.HCM cần thay đổi tư duy quy hoạch và quản trị không gian đô thị như thế nào để phát triển bền vững, thích ứng với tự nhiên và bảo đảm an toàn cho người dân?
- Sâu xa hơn, đây chính là bước chuyển từ quản lý đô thị sang quản trị không gian đô thị hướng đến phát triển bền vững. Quy hoạch sử dụng đất, mật độ xây dựng, giao thông, không gian nước và bảo vệ môi trường phải được phối hợp trong cùng một hệ thống, tính đến mối quan hệ thượng nguồn - hạ lưu của các lưu vực sông Sài Gòn, Đồng Nai, Vàm Cỏ và những biến đổi theo thời gian.

Chuyên gia cho rằng phát triển đô thị bền vững cần đặt sự an toàn, lợi ích của người dân làm trung tâm
ẢNH: NHẬT THỊNH
Quy hoạch phát triển và quản trị rủi ro phải được giải quyết đồng bộ, trên nền tảng dữ liệu địa không gian thống nhất. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần quản trị thống nhất không gian phát triển, chủ động phòng ngừa và nâng cao khả năng thích ứng, chống chịu được nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.
Theo tôi, phát triển đô thị bền vững cần dựa trên triết lý "Thuận thiên lý - Hợp địa thế - Đắc nhân tâm": tôn trọng quy luật tự nhiên, tổ chức phát triển phù hợp với điều kiện địa hình - thủy văn và đặt sự an toàn, lợi ích của người dân làm trung tâm.
Những milimet có thể im lặng, nhưng đô thị không thể im lặng trước những biến đổi đang diễn ra dưới chân mình.
* Xin cảm ơn ông!