Bỏ qua điều hướng
•

Chủ động dự báo, điều tiết nguồn nước mùa khô ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chủ động dự báo, điều tiết nguồn nước mùa khô ở Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trước nguy cơ nguồn nước về Đồng bằng sông Cửu Long ở mức thấp trong mùa khô 2026-2027, việc tăng cường dự báo, kết nối dữ liệu và điều tiết linh hoạt hệ thống công trình thủy lợi đang được xác định là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Khoa học, công nghệ mở ...

Theo các dự báo chuyên ngành, mùa khô 2026-2027 có thể xuất hiện nhiều yếu tố bất lợi đối với nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long. Lượng nước từ thượng nguồn có khả năng ở nhóm thấp, trong khi El Niño được dự báo tiếp tục tác động, làm giảm lượng mưa, gia tăng nhiệt độ và bốc hơi, kéo theo nhu cầu sử dụng nước tăng. Xâm nhập mặn được dự báo có thể xuất hiện từ cuối tháng 12/2026 và tăng cao trong các tháng 2-4/2027.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là vận hành công trình theo các quy trình có sẵn, mà phải chủ động dự báo và điều chỉnh vận hành theo diễn biến thực tế của nguồn nước.

Lấy dữ liệu làm cơ sở điều hành

Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, công tác dự báo nguồn nước được thực hiện nhằm phục vụ xây dựng kế hoạch phân phối, sử dụng nước trong các công trình thủy lợi, đồng thời hỗ trợ phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng tại Đồng bằng sông Cửu Long. Viện cũng dự kiến cập nhật các bản tin dự báo mùa Đông Xuân 2026-2027 để các địa phương theo dõi, điều chỉnh kế hoạch.

Từ hệ thống dự báo, các thông tin về mực nước, độ mặn, triều cường, chất lượng nước và nhu cầu sản xuất được sử dụng làm cơ sở để xác định thời điểm đóng, mở công trình, số lượng cửa van vận hành cũng như phương án phân phối nước tại từng khu vực.

Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam hiện quản lý 5 công trình đầu mối lớn gồm cống Cái Lớn, Cái Bé, âu thuyền Xẻo Rô, cống âu thuyền Ninh Quới và cống Vũng Liêm. Hệ thống các công trình này phục vụ kiểm soát mặn-ngọt, tiêu thoát lũ, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và dân sinh trên diện tích hơn 447.000ha.

Đáng chú ý, mạng lưới quản lý hiện có 42 trạm quan trắc tự động kết nối hệ thống SCADA, cung cấp dữ liệu về mực nước, độ mặn và chất lượng nước. Đây là cơ sở để công tác vận hành từng bước chuyển từ xử lý theo tình huống sang chủ động theo dõi, dự báo và điều chỉnh sớm.

Theo ông Trần Quang Hùng, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam, trước diễn biến khó lường của nguồn nước, các kịch bản vận hành cần được chuẩn bị từ sớm, từ xa. Công ty sẽ tiếp tục phối hợp với cơ quan khí tượng thủy văn, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam và các địa phương để nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo; đồng thời tăng cường hệ thống quan trắc đến từng tiểu vùng, phục vụ điều hành nguồn nước sát với thực tế.

Điều tiết theo từng vùng, từng nhu cầu

Một đặc điểm của Đồng bằng sông Cửu Long là cùng trong một mùa khô nhưng nhu cầu sử dụng nước giữa các tiểu vùng có sự khác biệt. Có nơi cần giữ nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, trong khi những khu vực khác cần chủ động lấy nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, điều tiết nguồn nước cần được thực hiện linh hoạt, dựa trên điều kiện thực tế thay vì áp dụng một phương thức chung cho toàn vùng.

Tại khu vực hệ thống Cái Lớn-Cái Bé và Xẻo Rô, mục tiêu vận hành là kiểm soát mặn xâm nhập sâu, đồng thời bảo đảm tiêu thoát nước, duy trì dòng chảy môi trường và đáp ứng nhu cầu lấy nước mặn cho nuôi thủy sản khi điều kiện cho phép. Trong thời kỳ xâm nhập mặn cao, việc vận hành các công trình cũng cần gắn với hệ thống Quản Lộ-Phụng Hiệp và các công trình liên quan để hạn chế xung đột nguồn nước giữa các vùng sản xuất.

Tại An Giang, kinh nghiệm vận hành cống âu thuyền Vàm Bà Lịch trong mùa khô 2025-2026 cho thấy việc chủ động điều tiết theo diễn biến độ mặn có thể góp phần hạn chế mặn xâm nhập sâu, bảo đảm nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt. Trong mùa khô tới, cơ quan chuyên môn tiếp tục theo dõi chặt diễn biến khí tượng, thủy văn và độ mặn để điều chỉnh lịch vận hành phù hợp.

Ở Cà Mau, yêu cầu điều tiết phức tạp hơn khi phải đồng thời đáp ứng nhu cầu giữ nước ngọt và lấy nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Kế hoạch vận hành vì vậy được xây dựng theo từng khu vực, bám sát diễn biến nguồn nước, thủy triều và lịch thời vụ.

Phối hợp để “đón” nguồn nước thay vì chạy theo tình huống

Theo ông Trần Quang Hùng, cùng với nâng cao chất lượng dự báo và quan trắc, công tác bảo trì, bảo dưỡng công trình phải được thực hiện nghiêm túc để hệ thống luôn trong trạng thái sẵn sàng, bảo đảm vận hành an toàn, liên tục và đa mục tiêu. Hiệu quả của hệ thống Cái Lớn-Cái Bé không chỉ phụ thuộc năng lực của từng công trình mà còn ở sự phối hợp, chia sẻ thông tin kịp thời giữa đơn vị quản lý và các địa phương vùng hưởng lợi.

Từ góc độ quản lý nguồn nước, quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long cũng đặt mục tiêu chủ động điều tiết nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển thượng nguồn, tạo nguồn cấp nước bền vững cho dân sinh, sản xuất và các ngành kinh tế, đồng thời nâng cao năng lực ứng phó với những tình huống bất lợi.

Trong điều kiện nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc lớn vào dòng chảy từ thượng nguồn và chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, việc hình thành một quy trình điều hành dựa trên dự báo, quan trắc và dữ liệu cập nhật liên tục sẽ giúp các công trình thủy lợi có thêm khả năng điều chỉnh theo từng thời điểm. Qua đó, thay vì chờ đến khi thiếu nước hoặc mặn xâm nhập sâu mới ứng phó, các địa phương có thể chủ động chuẩn bị nguồn nước, điều chỉnh lịch sản xuất và phối hợp vận hành công trình từ trước, góp phần bảo đảm nước cho sản xuất và đời sống dân sinh trong mùa khô.

Anh Trường-Hồng Tâm

Trước nguy cơ El Niño kéo dài khiến lượng nước thượng nguồn đổ về mức thấp, Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn gia tăng diện rộng từ cuối tháng 12/2026 đến tháng 4/2027. Thực tế này đòi hỏi công tác quản lý tài nguyên nước phải nhanh chóng chuyển dịch từ ứng phó tình huống sang chủ động dự báo và điều tiết sớm. Việc xây dựng kịch bản vận hành dựa trên cơ sở dữ liệu thời gian thực được xem là chìa khóa then chốt nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng. Nhằm nâng cao năng lực ứng phó, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam phối hợp cùng các đơn vị chuyên ngành liên tục cập nhật dữ liệu thủy văn, triều cường và chất lượng nước phục vụ điều hành. Hiện nay, Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam đang quản lý 5 công trình đầu mối lớn phục vụ kiểm soát nguồn nước cho hơn 447.000 ha. Mạng lưới 42 trạm quan trắc tự động kết nối SCADA đóng vai trò nòng cốt giúp theo dõi sát sao mực nước và độ mặn, hỗ trợ quyết định thời điểm vận hành cửa van chính xác. Theo ông Trần Quang Hùng, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam, việc chuẩn bị sớm các kịch bản giúp công tác điều tiết nước đạt hiệu quả tối ưu cho từng tiểu vùng. Do nhu cầu sử dụng nước giữa các khu vực có sự khác biệt rõ rệt, hệ thống công trình như Cái Lớn, Cái Bé hay Xẻo Rô phải vận hành hết sức linh hoạt. Sự chủ động này không chỉ giúp kiểm soát mặn và duy trì nguồn nước ngọt dân sinh, mà còn đáp ứng kịp thời thời điểm lấy nước mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản tại địa phương.