Đây là đề xuất của ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vietravel, Phó chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TPHCM (HUBA), khi chia sẻ với phóng viên Dân trí xung quanh câu chuyện “khách Tây chi tiêu “nhỏ giọt” và giải pháp để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo Nghị quyết 26-NQ/TW và Nghị quyết 27-NQ/TW.
Theo ông, khách quốc tế chưa ở lâu và chưa chi tiêu nhiều không phải vì họ không có khả năng chi trả, mà vì ngành kinh tế mũi nhọn chưa tạo ra đủ sản phẩm du lịch khiến họ thấy “xứng đáng” để chi trả.
Từ thực tế phục vụ hàng triệu lượt khách mỗi năm, Vietravel nhận thấy đâu là lý do khiến khách quốc tế tới TPHCM nói riêng và cả nước chưa ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và đặc biệt chưa có nhiều lựa chọn để tiêu tiền vào buổi tối?
- Trong nhiều năm đáp ứng nhu cầu của khách trong nước và quốc tế, chúng tôi thấy nhu cầu của khách đã thay đổi rất nhanh. Khách ngày nay không chỉ muốn “đến một nơi, chụp một bức ảnh”, mà muốn được sống trong không gian văn hóa của điểm đến, gặp gỡ người dân, thưởng thức ẩm thực, tham gia các hoạt động nghệ thuật, giải trí, chăm sóc sức khỏe, mua sắm và mang về những sản phẩm có câu chuyện.

Ông Nguyễn Quốc Kỳ (Ảnh: LG).
Đối với TPHCM, điều du khách đang tìm kiếm nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ có thể nhìn thấy ở 5 nhóm chính.
Thứ nhất là những sản phẩm văn hóa và giải trí có tính biểu tượng. TPHCM có lịch sử, văn hóa đô thị, kiến trúc, âm nhạc, sân khấu, ẩm thực và đời sống cộng đồng rất phong phú. Có điều, siêu đô thị vẫn thiếu một số chương trình biểu diễn thường kỳ, có quy mô và chất lượng quốc tế, đủ sức trở thành lý do để khách quyết định ở lại thêm một đêm.
Thứ hai là hệ sinh thái kinh tế ban đêm hoàn chỉnh. Hiện nay, hoạt động buổi tối của thành phố vẫn tập trung nhiều vào ăn uống, quán bar và một số tuyến phố đi bộ. Trong khi đó, du khách còn muốn tham quan bảo tàng ban đêm, xem nghệ thuật, đi du thuyền, tham gia food tour, mua hàng thiết kế Việt Nam, thưởng thức âm nhạc, chăm sóc sức khỏe…
Kinh tế ban đêm phải được hiểu là một hệ sinh thái vận hành từ khoảng 18h đến sáng hôm sau, chứ không chỉ là kéo dài giờ bán hàng. Trong hệ sinh thái ấy, văn hóa phải là nội dung cốt lõi. Ban đêm là khoảng thời gian tạo thêm doanh thu, còn du lịch là công cụ kết nối và thương mại hóa các giá trị văn hóa một cách văn minh, bền vững.

Khách quốc tế thưởng thức một chương trình nghệ thuật ở TPHCM buổi tối (Ảnh: Lê Tỉnh).
Thứ ba là sản phẩm mua sắm có chất lượng và bản sắc. Khách quốc tế muốn mua hàng Việt Nam nhưng nhiều khi chưa biết mua gì, mua ở đâu và chất lượng có được bảo đảm hay không? Thành phố đang thiếu những trung tâm giới thiệu hàng Việt Nam chất lượng cao, sản phẩm thiết kế Việt, thủ công mỹ nghệ, thời trang, mỹ phẩm, đặc sản vùng miền và quà tặng văn hóa được tuyển chọn, đóng gói và chứng nhận rõ ràng.
Du lịch mua sắm chỉ phát triển được khi có sản phẩm đáng mua, hệ thống bán hàng đáng tin cậy, thanh toán thuận tiện, hoàn thuế nhanh, vận chuyển hàng hóa dễ dàng và thời gian hoạt động phù hợp với lịch trình của khách.
Thứ tư là các trải nghiệm ẩm thực được tổ chức thành sản phẩm du lịch thực sự. TPHCM có một nền ẩm thực rất giàu có, phản ánh sự hội tụ của nhiều vùng miền và nhiều cộng đồng văn hóa. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động ẩm thực vẫn dừng ở việc giới thiệu địa chỉ ăn uống riêng lẻ.
Thứ năm là các hành trình liên vùng thuận tiện và khép kín. Khách quốc tế không nhìn điểm đến theo địa giới hành chính. Họ không phân biệt đâu là ranh giới TPHCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ... Điều họ quan tâm là trong 3, 5 hay 7 ngày, họ có được một hành trình hấp dẫn, thuận tiện và đáng tiền hay không.
Nguyên nhân chính khiến khách chưa ở lâu và chưa chi tiêu nhiều không phải vì họ không có khả năng chi trả, mà vì chúng ta chưa tạo ra đủ sản phẩm khiến họ thấy “xứng đáng” để chi trả!
Để đạt mục tiêu chuyển từ “đông khách” sang “khách có giá trị cao”, theo ông, doanh nghiệp lữ hành cần thiết kế lại sản phẩm như thế nào?
- Chuyển từ “đông khách” sang “khách có giá trị cao” không có nghĩa là chỉ phục vụ khách sang trọng hoặc tăng giá tour. “Giá trị cao” phải được hiểu là khách lưu trú lâu hơn, sử dụng nhiều dịch vụ hơn, có trải nghiệm tốt hơn, sẵn sàng quay lại và phần giá trị chi tiêu được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
Doanh nghiệp lữ hành phải chuyển từ bán một chương trình tham quan sang thiết kế toàn bộ hành trình giá trị của du khách.
Phải phân khúc khách theo nhu cầu và khả năng chi tiêu: khách MICE (hội nghị, hội thảo kết hợp du lịch), khách gia đình, khách trẻ, khách cao tuổi, khách nghỉ dưỡng, khách y tế, khách ẩm thực, khách yêu văn hóa, khách mua sắm, khách lưu trú dài ngày và khách quá cảnh. Mỗi nhóm phải có sản phẩm, thông điệp, kênh bán và tiêu chuẩn phục vụ riêng.

Khách quốc tế ngắm TPHCM từ buýt sông 2 tầng ở TPHCM (Ảnh: Ngọc Quý).
Sản phẩm phải được thiết kế theo cấu trúc linh hoạt 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ. Trong mỗi hành trình phải trả lời được ba câu hỏi rất cụ thể: làm thế nào để khách ở thêm một đêm; tham gia thêm ít nhất một hoạt động; và chi tiêu thêm một khoản tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ của địa phương.
Toàn bộ dịch vụ phải có khả năng tìm kiếm, đặt chỗ và thanh toán trực tuyến; có giá minh bạch, thông tin đa ngôn ngữ và tiêu chuẩn chất lượng thống nhất. Khách cần mua được một hành trình hoàn chỉnh gồm vé tham quan, ăn uống, biểu diễn, vận chuyển, mua sắm và bảo hiểm chỉ trên một nền tảng.
Những mô hình nào có thể giúp khách ở thêm 1-2 đêm, trải nghiệm thêm một hoạt động và chi thêm một khoản tiền?
Với TPHCM, từ góc độ Vietravel, chúng tôi nhìn thấy một số mô hình có thể triển khai ngay.
Một là chương trình “Saigon Night 365”, xây dựng lịch hoạt động ban đêm quanh năm, gồm ăn tối, show nghệ thuật, du thuyền trên sông Sài Gòn, bảo tàng đêm, phố ẩm thực, chợ đêm, âm nhạc, mua sắm và các sự kiện cuối tuần. Du khách có thể mua một loại thẻ “One City - One Pass” để tiếp cận các dịch vụ trong cùng một hành trình.
Hai là mô hình “City - River - Sea”, kết nối trung tâm TPHCM với không gian sông Sài Gòn, Cần Giờ, Vũng Tàu và Côn Đảo. Đây không chỉ là mở thêm tuyến tham quan mà là hình thành một chuỗi trải nghiệm đô thị - sinh thái - biển đảo, kết hợp du thuyền, ẩm thực, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, thể thao biển và du lịch di sản.
Ba là mô hình “MICE Plus”. Khách hội nghị, hội chợ, doanh nhân và chuyên gia quốc tế có khả năng chi tiêu cao nhưng lịch trình thường chỉ tập trung vào công việc. Nếu thành phố phát triển các gói sau hội nghị gồm ăn tối, biểu diễn, city tour đêm, du thuyền, golf, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng cuối tuần thì có thể kéo dài thời gian lưu trú thêm một hoặc hai đêm.
Bốn là xây dựng hệ sinh thái du lịch ẩm thực TPHCM, trong đó mỗi cộng đồng và mỗi không gian đô thị có một câu chuyện riêng. Ẩm thực phải được kết nối với chợ, làng nghề, đầu bếp, nghệ nhân, biểu diễn, mua sắm và quà tặng. Đây là sản phẩm có khả năng tạo doanh thu trực tiếp, lan tỏa đến nhiều hộ kinh doanh và giữ lại giá trị cao trong nền kinh tế địa phương.
Năm là phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản quyền và khả năng bán vé quanh năm. Thành phố cần có một vài sản phẩm biểu tượng đủ mạnh để khách quốc tế đặt vé trước khi đến Việt Nam.

Một sản phẩm nghệ thuật tốt không chỉ tạo doanh thu từ vé mà còn kích hoạt cả chuỗi ăn tối, vận chuyển, mua sắm, lưu trú và truyền thông điểm đến... (Trong ảnh: Một chương trình nghệ thuật ở TPHCM thu hút du khách. Ảnh: Lê Tỉnh).
Để các mô hình trên phát triển, TPHCM cần triển khai chính sách nào?
TPHCM cần ban hành một chương trình phát triển du lịch giá trị cao và kinh tế ban đêm với danh mục sản phẩm ưu tiên, không gian triển khai, cơ quan đầu mối và KPI cụ thể.
Cần lựa chọn một số khu vực để thí điểm cơ chế quản lý kinh tế ban đêm, bao gồm giờ hoạt động, cấp phép, an ninh, tiếng ồn, vệ sinh môi trường, giao thông, quảng cáo và tổ chức sự kiện. Những vấn đề mới chưa có quy định đầy đủ có thể thí điểm có kiểm soát, giám sát và hậu kiểm đúng tinh thần Nghị quyết 26.
Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng công như giao thông đêm, bến tàu, chiếu sáng, không gian công cộng, nhà vệ sinh, an ninh, dữ liệu và hạ tầng số. Doanh nghiệp đầu tư, xây dựng và vận hành sản phẩm theo cơ chế hợp tác công tư. Các chương trình hỗ trợ cần có thời hạn, có đối ứng của doanh nghiệp và được đánh giá bằng kết quả cụ thể, không nên bao cấp kéo dài.
Cần xây dựng nền tảng dữ liệu và lịch sự kiện dùng chung, kết nối với doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, hàng không, vận chuyển, điểm tham quan và đơn vị tổ chức sự kiện. Du khách phải biết tối nay những điểm đến có gì, đặt ở đâu, di chuyển thế nào và tổng chi phí bao nhiêu...
Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là làm cho TPHCM và du lịch cả nước đông khách hơn. Điều quan trọng là để mỗi du khách khi rời đi đều cảm thấy mình đã trải nghiệm được nhiều hơn dự kiến, sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn và có lý do để trở lại.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8 của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rất rõ: du lịch Việt Nam phải chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, lấy bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh.
Đến năm 2030, du lịch được xác định phải đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu từ 80-90 tỷ USD. Nghị quyết không chỉ đặt mục tiêu về lượng khách mà nhấn mạnh vào các thị trường khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày; đồng thời xác định TPHCM là một trong ba cực tăng trưởng du lịch của cả nước, cùng với Hà Nội và Đà Nẵng.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8 tiếp tục mở rộng tư duy này khi yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển không còn bó hẹp theo địa giới hành chính, mà phải dựa trên chức năng, tiềm năng, lợi thế, hành lang kinh tế và sự liên kết giữa các địa phương. Đối với TPHCM, đây là cơ sở rất quan trọng để phát triển du lịch theo không gian đô thị đa cực, kết nối trung tâm thành phố với Bình Dương, Cần Giờ, Vũng Tàu, Côn Đảo, sân bay Long Thành, Đồng bằng sông Cửu Long và các tuyến du lịch quốc tế.
Xin cám ơn ông!