Học phí đại học đang dự kiến được tiếp tục điều chỉnh khi chi phí đào tạo thực tế tại nhiều chương trình học đã vượt mức trần hiện hành. Trong khi đó, khả năng chi trả của người học vẫn là yếu tố cần được tính đến để bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM đã có những đánh giá về bức tranh học phí đại học hiện nay, những yếu tố làm tăng chi phí đào tạo, cũng như hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ người học.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Đại học chất lượng cao có thể trở thành “sân chơi” của những gia đình có điều kiện kinh tế
Ông đánh giá như thế nào về bức tranh học phí ở các trường đại học hiện nay? Theo ông, những yếu tố nào đang đẩy chi phí đào tạo và học phí tăng lên?
- Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa: Trong những năm qua, tốc độ tăng học phí, đặc biệt tại các trường công lập vừa chuyển sang tự chủ, có thể tăng gấp đôi hoặc hơn so với trước đây, tạo gánh nặng tài chính không nhỏ. Với các hộ gia đình ở nông thôn hoặc có thu nhập trung bình, việc duy trì mức học phí 25-50 triệu đồng/năm, chưa kể sinh hoạt phí tại các thành phố lớn, là một gánh nặng lớn.
Điều đáng lo là giáo dục đại học chất lượng cao có thể dần trở thành “sân chơi” của những gia đình có điều kiện kinh tế. Dù các trường có trích lập quỹ học bổng, độ phủ và mức hỗ trợ đôi khi chưa đủ để giải quyết triệt để rào cản tài chính đối với sinh viên nghèo vượt khó.
Tôi cho rằng Việc tăng học phí đại học ở Việt Nam là xu hướng tất yếu trong bối cảnh các trường tiến đến tự chủ, đặc biệt khi nguồn thu từ các nguồn ngoài học phí của các trường đại học Việt Nam chưa chiếm tỷ lệ cao như ở các nước tiên tiến.
Chi phí đào tạo tăng do nhiều yếu tố. Trước hết là các chi phí vận hành hằng ngày như điện, nước, hóa chất, nguyên vật liệu đào tạo, bảo trì thiết bị và nhu cầu đầu tư mạnh cho chuyển đổi số. Bên cạnh đó, các trường phải đầu tư ngày càng lớn cho cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị chuyên dụng, vật tư tiêu hao và các cơ sở thực hành, thực tập lâm sàng, đặc biệt ở các khối ngành sức khỏe, kỹ thuật, công nghệ và nghệ thuật.
Chi phí để đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trong nước và quốc tế cũng gia tăng, đòi hỏi nguồn lực phát triển đội ngũ giảng viên, bảo đảm chuẩn đầu ra và quốc tế hóa chương trình đào tạo.
Các chính sách cải cách tiền lương mới như Nghị định số 182/2026/NĐ-CP về phụ cấp ưu đãi nhà giáo và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP về tăng lương cơ sở cũng làm gia tăng quỹ lương và chi thường xuyên của các cơ sở giáo dục.

Áp lực học phí cao, không ít sinh viên phải tìm kiếm nhiều công việc làm thêm ngoài giờ học để có thêm chi phí sinh hoạt, học tập (Ảnh: Phạm Anh).
Báo cáo của Bộ GD&ĐT mới đây cho thấy trong 988 chương trình được khảo sát, có 586 chương trình (59,3%) có chi phí đào tạo tính đủ cao hơn mức trần hiện hành; 270 chương trình cần cao hơn ít nhất 1,5 lần và 127 chương trình cao từ 2 lần trần trở lên. Ông nhìn nhận khoảng cách này như thế nào?
- Nếu thực hiện tính đúng, tính đủ, phần lớn các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là nhóm chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, đang phải duy trì mức học phí thấp hơn đáng kể so với chi phí đào tạo thực tế.
Khoản chênh lệch này hiện phải phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước cấp hoặc các nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở giáo dục để bù đắp. Ngay cả khi áp dụng mức học phí tối đa theo quy định hiện hành, nguồn thu vẫn chưa đủ để bù đắp chi phí cho nhiều chương trình đào tạo.
Điều này cho thấy mức trần học phí hiện hành đang bộc lộ hạn chế, chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu nguồn lực thực tế của phần lớn chương trình đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học, chứ không phải do các trường chưa tận dụng hết dư địa thu.

Một giờ thực hành của sinh viên tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) (Ảnh: Nam Anh).
Điều chỉnh học phí cần lộ trình phù hợp
Với thực tế hiện nay, theo ông, mức tăng học phí hằng năm bao nhiêu là hợp lý để vừa giúp trường có nguồn lực, vừa không tạo cú sốc tài chính cho người học? Trong đó, khả năng chi trả của người học có nên được xem là yếu tố bắt buộc phải tính đến?
- Tôi cho rằng khả năng chi trả của người học là một yếu tố thực tế bắt buộc phải được cân nhắc khi xác định học phí. Mức học phí không chỉ phụ thuộc vào khung pháp lý hay mức độ tự chủ tài chính mà còn chịu tác động từ khả năng chi trả của người dân, áp lực cạnh tranh trong tuyển sinh, uy tín và chiến lược phát triển của từng cơ sở giáo dục.
Vì vậy, việc điều chỉnh học phí cần có lộ trình phù hợp, bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục đại học, đặc biệt đối với sinh viên đến từ khu vực khó khăn và các nhóm yếu thế.
Trong những năm trước đây, Chính phủ đều có quy định về chính sách và lộ trình điều chỉnh học phí. Đối với các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, tỷ lệ tăng học phí các năm tiếp theo tối đa không quá 15% đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và không quá 10% đối với giáo dục phổ thông, mầm non.
Đối với các trường công lập, từ năm học 2027-2028 trở đi, mức trần học phí sẽ được điều chỉnh phù hợp với khả năng chi trả và điều kiện kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mức tăng tối đa không vượt quá tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tại thời điểm xác định mức học phí so với cùng kỳ năm trước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố.
Việc gắn mức tăng tối đa với biến động của chỉ số giá tiêu dùng là một cơ chế hợp lý, vừa giúp các trường có nguồn lực bù đắp chi phí trượt giá, vừa không tạo ra cú sốc tài chính đột ngột cho người học.

Mức trần học phí đại học năm học 2026-2027 đối với các cơ sở đào tạo chưa đảm bảo chi thường xuyên theo Nghị định 238/2025 của Chính phủ. Trong đó, Bộ GD&ĐT đang đề xuất đưa ngành Răng Hàm Mặt vào nhóm có mức trần cao nhất (Ảnh: nguồn từ Bộ GD&ĐT).
Cần sớm ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật, cải tổ mạnh chính sách tín dụng
Theo ông, các chính sách miễn, giảm học phí, học bổng và tín dụng sinh viên hiện nay hỗ trợ được đến đâu? Nhóm sinh viên nào vẫn còn khoảng trống hỗ trợ?
- Theo tôi, các chính sách miễn, giảm học phí hiện nay đã góp phần lớn trong việc bảo đảm công bằng, giảm gánh nặng tài chính và hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng chính sách, người khuyết tật, hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, khoảng trống hỗ trợ vẫn tồn tại rõ rệt ở một số nhóm.
Thứ nhất là sinh viên thuộc diện chính sách nhưng theo học tại các trường đã tự chủ tài chính hoặc các chương trình chất lượng cao. Nhà nước hiện chỉ cấp bù dựa trên mức trần học phí quy định, trong khi học phí thực tế của các trường này cao hơn nhiều, khiến người học vẫn phải tự chi trả phần chênh lệch lớn.
Thứ hai là sinh viên theo học các ngành đặc thù như sức khỏe, nghệ thuật, thể thao, kỹ thuật, có chi phí thực tế rất lớn. Mức miễn, giảm hoặc cấp bù hiện hành chưa phản ánh đúng đặc thù chi phí đào tạo của các khối ngành này.

Sinh viên ở TPHCM phỏng vấn với doanh nghiệp để tìm kiếm cơ hội việc làm sớm trước khi ra trường (Ảnh: Phạm Anh).
Trong bối cảnh học phí tiếp tục tăng, theo ông, cần làm gì để giảm gánh nặng tài chính và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của người học?
- Tôi cho rằng cần cải tổ mạnh mẽ cơ chế học phí và chính sách tín dụng sinh viên để giảm áp lực cho người học. Điều này thể hiện qua dự thảo quyết định mới đề xuất nâng mức vay vốn tối đa lên 8 triệu đồng/tháng/sinh viên, phù hợp hơn với mặt bằng chi phí đào tạo và sinh hoạt hiện nay.
Bên cạnh đó, Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg đã có chính sách tín dụng riêng cho khối ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM), cho phép người học vay toàn bộ học phí thực tế sau khi trừ các khoản học bổng và hỗ trợ tài chính, cộng thêm tối đa 5 triệu đồng/tháng tiền sinh hoạt phí và các chi phí học tập khác.
Tuy nhiên, việc quản lý hồ sơ và thủ tục vay vốn cũng cần đẩy mạnh số hóa, chuyển đổi số để đơn giản, rõ ràng và dễ tiếp cận hơn.
Về cơ chế học phí, theo tôi, cần xác định trên nguyên tắc chia sẻ minh bạch, theo công thức: Mức học phí = Chi phí đào tạo thực tế - Phần kinh phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Đặc biệt, Nhà nước cần hoàn thiện và ban hành đầy đủ các định mức kinh tế - kỹ thuật để làm cơ sở xác định chi phí đào tạo thực tế. Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi cơ chế cấp bù tiền miễn, giảm học phí của Nhà nước theo hướng cấp bù dựa trên mức học phí thực tế của cơ sở đào tạo, đặc biệt đối với các trường tự chủ, thay vì bị giới hạn bởi mức trần học phí.
Nhà nước cũng cần tiếp tục ưu tiên đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ kèm theo ngân sách đối với các ngành nghề trọng điểm, những ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu, cũng như có cơ chế hỗ trợ riêng cho các khối ngành có chi phí đào tạo lớn.
Về phía chính các trường đại học cần khuyến khích mạnh mẽ mô hình doanh nghiệp trong trường đại học, đẩy mạnh thương mại hóa nghiên cứu và xây dựng văn hóa đóng góp quỹ hiến tặng (endowment) từ cựu sinh viên và doanh nghiệp. Qua đó, các trường có thể đa dạng hóa nguồn thu ngoài học phí, tăng nguồn lực đầu tư cho đào tạo và từng bước giảm áp lực chi phí lên người học.
Xin cảm ơn ông!