Bỏ qua điều hướng

Chuyên gia Việt - Nga bàn cách kết nối công nghệ chiến lược

Chuyên gia Việt - Nga bàn cách kết nối công nghệ chiến lược
Nguồn ảnh: VnExpress

Các chuyên gia Việt Nam và Nga đề xuất kết nối nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và năng lực R&D của hai nước để cùng phát triển công nghệ chiến lược, thay vì chủ yếu dừng ở đào tạo và trao đổi khoa học.

Các ý kiến được đưa ra tại phiên thảo luận về kết nối công nghệ chiến lược trong khuôn khổ Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tuần này. Từ những câu hỏi về nhu cầu công nghệ của Việt Nam và thế mạnh của Nga, các diễn giả bàn về mô hình hợp tác, những dự án có thể triển khai và các lĩnh vực ưu tiên những năm tới.

Nhiều vấn đề được đưa ra như các mô hình có thể tạo ra kết quả cụ thể hơn, một trung tâm công nghệ chung tại Việt Nam, việc cùng khai thác các hạ tầng nghiên cứu lớn của Nga, hay hợp tác trong những lĩnh vực như năng lượng, vật liệu, công nghệ hạt nhân, sinh học.

Toàn cảnh phiên thảo luận. Ảnh: BTC

Toàn cảnh phiên thảo luận. Ảnh: BTC

Các đề xuất cho giai đoạn hợp tác mới

Ông Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP HCM, đề xuất chuyển mạnh từ mô hình chủ yếu gửi người sang Nga đào tạo sang các chương trình hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trực tiếp, đặc biệt ở những công nghệ chiến lược mới nổi mà Việt Nam có nhu cầu và Nga có thế mạnh.

Theo ông, đào tạo cũng cần đổi mới theo hướng linh hoạt hơn, kết hợp thời gian học tại Việt Nam và Nga, đồng thời ưu tiên đào tạo đội ngũ giảng viên, chuyên gia nòng cốt để nhân rộng nguồn nhân lực trong nước. Với ngành hạt nhân, học bổng chỉ là điều kiện cần; người học cần nhìn thấy cơ hội việc làm và lộ trình nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Từ đó, ông Phong kiến nghị hai nước xem xét thành lập một "Trung tâm Phát triển Công nghệ chung" đặt tại Việt Nam. Trung tâm vừa thực hiện R&D và chuyển giao công nghệ, vừa là cầu nối đào tạo nhân lực thực hành cho các trường đại học và cung cấp nhân lực cho khu vực công nghiệp.

Viện sĩ Grigory Trubnikov, Giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Liên hợp Dubna (JINR), ủng hộ ý tưởng này, nhấn mạnh trung tâm chung cần gắn với đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ và tạo môi trường để họ tiếp tục nghiên cứu. Ông xem phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và cùng phát triển công nghệ, thiết bị mới là hai trụ cột của hợp tác Việt - Nga trong giai đoạn tới.

Trong khi đó, ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vinatom), đặt trọng tâm vào việc lựa chọn những dự án có thể tạo kết quả cụ thể. Trả lời câu hỏi về chuyển từ nghiên cứu theo nhiệm vụ sang nghiên cứu định hướng kết quả, ông cho rằng đây là bước quan trọng để đưa khoa học và công nghệ vào thực tiễn, và là điều mà Vinatom hướng đến trong hàng chục năm qua.

Ông đề xuất từ nay đến năm 2030 tập trung vào năm nhóm lĩnh vực như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân với lò phản ứng nghiên cứu mới; dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1; nghiên cứu, phát triển công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR); khoa học vật liệu, đặc biệt công nghệ luyện kim và thép hợp kim chuyên dụng; và tàu biển. Đây đều là lĩnh vực liên quan đến năng lượng nguyên tử mà Nga hiện có thế mạnh.

Đề cập dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai, với lò phản ứng nghiên cứu mới công suất khoảng 10-15 MW, ông Thành cho biết trung tâm trong tương lai có thể tạo ra sản phẩm như đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư, đồng thời mở hướng nghiên cứu chiếu xạ silicon để tạo vật liệu bán dẫn.

Ở phía Nga, ông Valery Bukhtiyarov, Giám đốc Viện Xúc tác Boreskov, cho rằng bước đầu tiên vẫn là tăng cường trao đổi chuyên gia và nhân lực khoa học, nhưng việc trao đổi cần gắn với những dự án thực tế. Ông nhắc đến SKIF (nguồn photon vòng Siberia) là tổ hợp máy gia tốc thế hệ mới được Nga khánh thành, như là một ví dụ để các nhà khoa học Việt Nam trực tiếp tiếp cận hạ tầng, cùng hình thành ngôn ngữ chuyên môn và từ đó xác định các nhiệm vụ hợp tác lớn hơn. Hạ tầng này có thể nghiên cứu vật chất ở cấp độ nguyên tử, phân tử, với ứng dụng trong vật liệu pin, dầu khí, xúc tác, y sinh và dược chất phóng xạ. Ông cho biết sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm nếu Việt Nam phát triển nguồn photon riêng, đồng thời mở khả năng để Việt Nam tham gia SKIF.

Không gian khán phòng tổ chức Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga, ngày 9/9. Ảnh: Lưu Quý

Không gian khán phòng tổ chức Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga, ngày 9/9 tại Nga. Ảnh: Lưu Quý

Ông Aleksandr Blagov, đến từ Viện Kurchatov, đưa ra hướng tiếp cận rộng hơn dựa trên các hạ tầng Mega-Science. Ông cho rằng vật liệu mới và năng lượng vẫn là hai hướng cốt lõi, nhưng hợp tác có thể mở rộng sang công nghệ sinh học, năng lượng sinh học, y học hạt nhân và nghiên cứu lò phản ứng thế hệ IV. Ông cũng đề cập việc tiếp tục khai thác Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga trong các lĩnh vực như vi sinh học, độ bền vật liệu biển cho tàu viễn dương; xây dựng mạng lưới các nguồn bức xạ synchrotron và laser thế hệ mới; hợp tác trên nền tảng dữ liệu số hóa về khoa học vật liệu. Đáng chú ý, ông Blagov đưa ra lời mời Việt Nam tham gia Liên minh nghiên cứu quốc tế về cơ sở hạ tầng Mega-Science, hiện có Nga và một số nước tham gia.

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Hoàng Linh, Cục trưởng An toàn bức xạ và hạt nhân - Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng việc mở rộng hợp tác hạt nhân phải đi cùng với xây dựng năng lực bảo đảm an toàn, an ninh.

Ông đề xuất trong 5-10 năm tới, phía Nga hỗ trợ chuyển giao công nghệ thẩm định an toàn các nhà máy điện hạt nhân công suất lớn để có thể áp dụng cho Ninh Thuận 1 và các dòng SMR sau này. Song song, hai bên có thể phối hợp xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo và phát triển nguồn nhân lực pháp quy về an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân của Việt Nam đến năm 2035.

Từ hợp tác, đào tạo đến cùng nghiên cứu

Những đề xuất trên được đặt trên nền tảng hợp tác khoa học Việt - Nga đã hình thành từ nhiều thập kỷ. Chẳng hạn với JINR, ông Trubnikov cho biết Việt Nam đã hợp tác với trung tâm nghiên cứu tại Dubna khoảng 70 năm. Nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam từng học tập, nghiên cứu tại đây trước khi trở về nước và đảm nhiệm các vị trí quan trọng.

Theo ông, nền tảng này tạo tiền đề để hai bên chuyển sang những hình thức hợp tác sâu hơn, trong đó không chỉ đào tạo nhân lực mà cùng phát triển công nghệ và thiết bị.

Ở lĩnh vực hạt nhân, Vinatom đang hợp tác với đối tác Nga như Rosatom, JINR Dubna, Viện Năng lượng Moscow và Đại học Bách khoa Tomsk. Tại diễn đàn, ông Thành cho biết Việt Nam vừa tham gia trao thỏa thuận Dự án Trung tâm nghiên cứu quốc tế trên Lò phản ứng nghiên cứu nhanh đa năng (MBIR) cùng Rosatom.

Đoàn của Bộ Khoa học và Công nghệ đến tham quan tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân JINR ở Dubna, ngày 10/9. Ảnh: Ngọc Anh

Đoàn của Bộ Khoa học và Công nghệ đến tham quan tại Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân JINR ở Dubna, ngày 10/9. Ảnh: Ngọc Anh

Một số hoạt động hợp tác đã được mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng. Với công nghệ hạt nhân, các hướng được đề cập gồm sản xuất đồng vị, dược chất phóng xạ, nghiên cứu vật liệu và ứng dụng trong y tế, nông nghiệp. Từ nền tảng hợp tác đó, các diễn giả cho rằng giai đoạn tiếp theo có thể hướng tới những dự án mà hai bên cùng tham gia sâu hơn, từ nghiên cứu và phát triển đến đào tạo, chuyển giao và ứng dụng công nghệ.

Phát biểu kết luận diễn đàn, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh một trong những nội dung quan trọng là cần lộ trình, định hướng không chỉ nghiên cứu chung, mà phải có ứng dụng cụ thể ở trong doanh nghiệp và trong các ngành kinh tế kỹ thuật.

"Định hướng cần đưa vào một lộ trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga", ông nói.

Ông cho biết sẽ đưa toàn bộ đề xuất, sáng kiến vào Chiến lược hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn tới, bám sát các nhóm công nghệ chiến lược đôi bên cùng quan tâm, đồng thời mở rộng không gian cho nhà khoa học trẻ và doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để hai bên tiếp cận, khai thác các kết quả nghiên cứu chung.

Thứ trưởng Lê Xuân Định phát biểu kết luận tại diễn đàn. Ảnh: Lưu Quý

Thứ trưởng Lê Xuân Định phát biểu kết luận tại diễn đàn ngày 9/9. Ảnh: Lưu Quý

Lưu Quý

Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Liên bang Nga vừa qua đã đánh dấu bước chuyển dịch chiến lược trong hợp tác song phương, từ trao đổi học thuật truyền thống sang nghiên cứu và phát triển (R&D) ứng dụng. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghệ chiến lược trong nước, đại diện Đại học Bách khoa TP HCM đề xuất thành lập "Trung tâm Phát triển Công nghệ chung" đặt tại Việt Nam. Mô hình này hướng tới mục tiêu tích hợp giữa R&D, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực thực hành chất lượng cao cho khu vực công nghiệp. Ý tưởng trên nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ Viện sĩ Grigory Trubnikov, Giám đốc Phòng thí nghiệm Quốc gia Liên hợp Dubna (JINR). Về phía Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vinatom), Viện trưởng Trần Chí Thành nhấn mạnh việc chuyển từ nghiên cứu theo nhiệm vụ sang định hướng tạo kết quả cụ thể. Đến năm 2030, Vinatom đề xuất tập trung vào năm nhóm lĩnh vực trọng điểm bao gồm Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai với lò phản ứng công suất 10-15 MW, dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR). Bên cạnh đó, các định hướng hợp tác then chốt khác cũng được xác định như khoa học vật liệu, công nghệ luyện kim, thép hợp kim chuyên dụng và phát triển tàu biển. Đây đều là những thế mạnh công nghệ hàng đầu của Nga mà Việt Nam đang có nhu cầu khai thác thiết thực. Sự thống nhất giữa các chuyên gia hai nước thể hiện tầm nhìn chung trong việc biến tiềm lực hạ tầng và tri thức thành các dự án công nghệ mang tính ứng dụng cao. Việc kết hợp hạ tầng nghiên cứu quy mô lớn của Nga với mạng lưới đào tạo linh hoạt tại Việt Nam sẽ tạo động lực phát triển mới. Đổi mới mô hình hợp tác giai đoạn tới hứa hẹn tạo dựng hệ sinh thái khoa học công nghệ vững chắc, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển bền vững của hai quốc gia.