Lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam - Nhật Bản từng trải qua những giai đoạn khó khăn. Nhưng cả hai dân tộc đã vượt qua quá khứ, hướng tới tương lai thông qua tình hữu nghị, củng cố lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau.
Lòng tin không phải tự nhiên mà có, lòng tin được xây dựng bằng những việc làm cụ thể, bằng sự giữ lời hứa, bằng sự có mặt đúng lúc khi bạn khó khăn.
Hướng tới tương lai bằng lòng tin, sự chân thành, tôn trọng và thấu hiểu
Năm 1992, khi Việt Nam còn rất khó khăn, Nhật Bản là nước đầu tiên nối lại ODA. Hơn 30 tỷ USD ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Nam trong hơn 30 năm qua không chỉ là tiền, mà là lòng tin. Cầu Nhật Tân, Nhà ga T2 Nội Bài, Bệnh viện Chợ Rẫy hữu nghị Việt - Nhật... mỗi công trình đều là một biểu tượng của lòng tin đó.
Việt Nam cũng đã đáp lại lòng tin đó bằng sự chân thành. Chúng ta sử dụng ODA một cách hiệu quả, minh bạch, và luôn coi Nhật Bản là người bạn thủy chung. Đó là lý do vì sao sau 53 năm, hai nước vẫn có thể nói với nhau bằng hai chữ "tin cậy" một cách đầy tự hào.
Một chính khách Nhật Bản đã từng nói: Việt Nam và Nhật Bản là những "đồng minh tự nhiên". Chúng ta có chung khát vọng về hòa bình, về phát triển, về một châu Á thịnh vượng. Chúng ta bổ sung cho nhau, cùng nhau hợp tác và phát triển để thực hiện khát vọng của nhân dân hai nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae nhân chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5 (Ảnh: TTXVN).
Trong ngoại giao, những cuộc gặp giữa lãnh đạo Việt Nam và Nhật Bản luôn để lại một cảm giác đặc biệt là sự chân thành, tôn trọng và thấu hiểu.
Chỉ tính từ năm 1995 đến nay, có rất nhiều cuộc gặp và chuyến thăm cấp cao giữa hai nước. Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Nhật năm 1995; Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh năm 2002 và đặc biệt là chuyến thăm ngày 19-22/4/2009, khi hai bên ký Tuyên bố chung nâng cấp lên Đối tác Chiến lược; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Nhật năm 2007 - chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Nguyên thủ Việt Nam; trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang năm 2014, hai nước đã nâng cấp quan hệ thành Đối tác Chiến lược sâu rộng, vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á…
Các chuyến thăm đó đều cho thấy một điểm chung là lãnh đạo Nhật Bản luôn dành cho Việt Nam sự trọng thị đặc biệt.
Và phía Việt Nam cũng vậy. Khi Nhà vua Akihito và Hoàng hậu Michiko thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam năm 2017, lần đầu tiên trong lịch sử có một Thiên hoàng Nhật Bản tới Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đón tiếp Nhà vua bằng tất cả tình cảm nồng hậu nhất.
Chúng ta còn nhớ hình ảnh Nhà vua và Hoàng hậu tới thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, giao lưu với các cựu sinh viên Việt Nam từng học tại Nhật Bản. Đó không phải là ngoại giao nghi lễ, mà là ngoại giao từ trái tim.
Lòng tin giữa lãnh đạo hai nước chính là tài sản quý giá nhất. Khi lãnh đạo tin nhau, thì doanh nghiệp tin nhau, nhân dân tin nhau và cả hệ thống hợp tác sẽ vận hành một cách trơn tru.
Tình cảm của nhân dân - linh hồn của quan hệ
Nếu ví chính trị là xương sống, kinh tế là máu thịt thì tình cảm nhân dân chính là linh hồn của quan hệ Việt - Nhật.
Ngày nay có hơn 700.000 người Việt đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản, họ là những kỹ sư, những thực tập sinh, những du học sinh, họ không chỉ đóng góp cho sự phát triển của Nhật Bản, mà còn là những sứ giả văn hóa, mang hình ảnh Việt Nam hiền hòa, chăm chỉ, nghĩa tình đến với người dân Nhật Bản.
Về phía Nhật Bản, có hơn 20.000 người Nhật đang sinh sống tại Việt Nam. Nhiều doanh nhân Nhật Bản nói rằng: "Tôi đến Việt Nam vì công việc, nhưng ở lại vì tình cảm". Họ yêu món phở Hà Nội, yêu sự thân thiện của người dân Việt Nam, yêu sự cần cù của người lao động Việt Nam.

Chương trình giao lưu văn hóa Việt Nhật ngày 20/3/2025 tại Đà Nẵng (Ảnh: TTXVN).
Rất nhiều bạn bè Nhật Bản yêu đất nước Việt Nam, yêu mến văn hóa Việt Nam và sự cởi mở, chân thành của người dân Việt Nam.
Khi động đất, sóng thần xảy ra ở Nhật Bản năm 2011, nhân dân Việt Nam đã quyên góp, đã cầu nguyện cho Nhật Bản.
Một trong những việc đầu tiên tôi làm trên đất nước Nhật Bản là đến thăm khu vực diễn ra động đất, sóng thần, đến cách Nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima chỉ hơn 3km. Chúng tôi thay mặt cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam thăm hỏi chính quyền các địa phương và nhân dân ở các vùng bị thảm họa đó rằng Việt Nam có thể làm gì để hỗ trợ các bạn, để giúp các bạn một phần trong việc khắc phục hậu quả nặng nề của thảm họa do thiên nhiên mang đến.
Hiện trên nét mặt các bạn bè Nhật Bản là sự xúc động về sự quan tâm của Việt Nam.
Khi Việt Nam bị lũ lụt, người dân Nhật Bản cũng đã chung tay giúp đỡ. Tình cảm đó không thể đo đếm bằng tiền.
Đó chính là lý do vì sao chúng ta luôn nói: Quan hệ Việt - Nhật không chỉ là quan hệ giữa hai Chính phủ, mà là quan hệ giữa nhân dân hai nước, giữa hai dân tộc.
Lợi ích thiết thực - hợp tác để cùng thịnh vượng
Tình cảm phải đi đôi với lợi ích thiết thực thì mới bền vững, quan hệ Việt - Nhật là minh chứng cho điều đó.
Về kinh tế, hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999. Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản luôn tăng trưởng ổn định, cân bằng, đạt khoảng 52 tỷ USD năm 2025, tăng gấp đôi so với năm 2014 (27,4 tỷ USD). Những con số đó không phải là con số khô khan, mà là việc làm, là thu nhập, là sinh kế của hàng triệu người lao động Việt Nam.

Kiều bào tại thành phố Fukuoka và gia đình tham dự chương trình “Tiếng Việt trong lòng Kyushu, Nhật Bản” (Ảnh: TTXVN).
Trong nhiệm kỳ của mình, bên cạnh thúc đẩy hợp tác phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam, chúng tôi đã rất nỗ lực thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là một trong những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược nhất.
Việt Nam có lợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn lao động nông nghiệp dồi dào và kinh nghiệm canh tác lâu đời. Nhật Bản có lợi thế về khoa học công nghệ, giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch và quản lý chuỗi cung ứng hiện đại.
Khi hai thế mạnh đó kết hợp với nhau, chúng ta không chỉ tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, an toàn, mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực ở từng nước và trên thế giới.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đứt gãy chuỗi cung ứng, an ninh lương thực đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia của cả hai nước. Hợp tác nông nghiệp Việt - Nhật không chỉ là hợp tác kinh tế mà là hợp tác vì sự sống, vì hạnh phúc của người dân.
Về phía Nhật Bản, Việt Nam đã trở thành đối tác không thể thiếu trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh kinh tế. Việt Nam cũng là đối tác tin cậy của Nhật Bản trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông, ở khu vực châu Á - Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Quan trọng hơn, hợp tác Việt - Nhật đã đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng chung. Hai nước cùng ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, cùng tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), cùng chia sẻ tầm nhìn về một khu vực tự do, rộng mở, bao trùm.
Con đường của lòng tin và tình hữu nghị
Chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được kỳ vọng rất lớn.
Tầm nhìn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tầm nhìn của một nhà lãnh đạo quyết tâm đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, trở thành nước phát triển vào năm 2045, trong tầm nhìn đó, Nhật Bản luôn giữ một vị trí đặc biệt.
Với tình cảm sâu sắc dành cho Nhật Bản, với phong cách lãnh đạo quyết đoán, thực chất, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Takaichi Sanae sẽ có cuộc gặp, cuộc hội đàm thành công, không chỉ là những nghi lễ ngoại giao, mà là một cuộc gặp gỡ của hai người bạn gần gũi, đại diện cho niềm tin của hai đất nước, cùng bàn về tương lai của hai dân tộc.

Đại sứ Đoàn Xuân Hưng phát biểu tại hội thảo khoa học quốc tế nhân kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản (Ảnh: CTV).
Về quan hệ tương lai, nhà lãnh đạo hai nước sẽ trao đổi về tầm nhìn mới về phát triển ở hai nước và sự kết nối hai nền kinh tế sâu sắc hơn nữa...
Chuyến thăm sẽ củng cố và làm sâu sắc hơn nữa lòng tin chiến lược Việt - Nhật, đưa lòng tin đó lên một tầm cao mới: Lòng tin chiến lược toàn diện.
Và từ nền tảng lòng tin đó, hai nước sẽ cùng mở ra những hợp tác trong nhiều lĩnh vực mới, nơi cả hai bên đều có thế mạnh và nhu cầu:
Một là ODA thế hệ mới. Không chỉ là vay vốn mà là đồng sáng tạo, tập trung vào hạ tầng chất lượng cao, đường sắt tốc độ cao, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Hai là đổi mới sáng tạo, bán dẫn, chuyển đổi số. Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn, rất cần sự đồng hành của Nhật Bản.
Ba là đất hiếm và an ninh năng lượng, Việt Nam có trữ lượng đất hiếm lớn thứ hai thế giới, Nhật Bản có công nghệ chế biến sâu. Hợp tác này sẽ giúp cả hai nước tự chủ chiến lược.
Bốn là nông nghiệp công nghệ cao và an ninh lương thực, Hai bên tiếp tục phát huy thế mạnh của mỗi nước, xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững.
Năm là giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Hai bên chuyển từ hợp tác lao động phổ thông sang hợp tác nhân lực chất lượng cao, để người Việt Nam không chỉ làm việc tại Nhật Bản mà còn cùng Nhật Bản sáng tạo.
53 năm là một chặng đường đủ dài để chúng ta khẳng định Việt Nam và Nhật Bản đã chọn đúng con đường, con đường của lòng tin và tình hữu nghị.
Với chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, quan hệ Việt - Nhật sẽ bước sang một giai đoạn mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn, vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định ở châu Á và trên thế giới.
Đó là kỳ vọng của hàng triệu người dân Việt Nam và Nhật Bản, những người luôn yêu mến và tin tưởng vào tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Đại sứ Đoàn Xuân Hưng
Đại sứ Việt Nam tại Nhật bản từ tháng 12/2011 đến tháng 8/2015; Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Nhật; Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Hòa bình & Phát triển Việt Nam