
Minh họa: Tuấn Anh
Quán cà phê với cái tên gọn lỏn này cứ bạc thếch theo thời gian. Dễ chừng cũng hơn sáu thập niên trôi qua, miền cao nguyên này cứ dập dìu kẻ đến người đi, nhưng trong ký ức của họ chắc chắn có Tùng. Trong căn nhà hoài cổ ấy, những bản nhạc xưa cứ dặt dìu vang lên, hương cà phê nồng hơn giữa tiết trời lạnh lẽo. Người với người cứ thế xích lại gần bên nhau. Đôi khi, cả quãng thời gian dài, người ta chỉ ngồi đó và chìm trong miên man suy nghĩ. Chẳng ai đọc được nội tâm của ai. Nhưng, họ đều im lặng để tiếng nhạc trầm mặc ru hồn mình vào những mùa quá vãng.
Oanh nói vậy, khi hai chúng tôi đến đây, khoảng đời quá hai mươi tuổi, chẳng đủ già để ngồi nghe vết thương đời hoen rỉ lên tâm can, nhưng cũng chẳng còn trẻ bởi tứ bề là những in hằn của dấu xước từ bụi đường mưu sinh. Chúng tôi quá hai mươi, nhưng hình như già đời sớm. Cái già đời của những bôn ba sau tháng ngày sinh viên khiến chúng tôi đủ lắng mà thấu cảm cái không gian này.
Ngày đó, Oanh đến nơi đây sau một lần chia tay tình đầu với nhiều vun vén cho ước mơ. Một mình, Oanh bỏ thị thành quanh năm nắng ấm của phương Nam để tìm cho mình một quãng sống bình yên với Đà Lạt. Người ta nói nơi này buồn, ấy vậy mà hễ cứ lòng dạ chênh chao, thiên hạ lại tìm về trầm mình trong mớ khắc khoải của cuộc đời.
Tôi cũng đến, ngay khoảng đời mình tuột mất tất cả. Chỉ còn đâu đó vài trăm ngàn, và cơn thèm rời xa chốn phồn hoa đô lệ. Nơi mà ai cũng bảo mọi ước mơ sẽ được chắp cánh. Riêng mình tôi, có lẽ tuổi trẻ bồng bột non nớt cộng thêm chút háo thắng khiến mình trắng tay sau lần đầu thử sức tạo dựng một cơ ngơi cho mình. Tôi chẳng biết đi đâu, khi khoảng đời ấy đầu óc cứ mông mênh nhiều nỗi vô định. Thôi thì cứ chạy ra bến xe, chuyến nào xuất phát mà còn ghế thì leo lên. Vừa vặn khi ấy, chuyến xe Đà Lạt trống một ghế cuối.
Chúng tôi vô tình ngồi gần nhau ở Tùng. Ngồi và nhắm mắt. Thỉnh thoảng mở mắt ra nhìn và nhấp ngụm cà phê. Hình như cả buổi chiều của hai mươi năm trước, chúng tôi cứ ngồi như thế. Mãi đến đêm phủ xuống thành phố này, chúng tôi mới rời quán. Có lẽ sự cô độc là thứ chất kết dính chúng tôi lại. Quãng đường từ khu Hòa Bình đi xuống chợ đêm, chúng tôi ngó nhau và bất giác cười. Thế là quen. Tôi bảo với Oanh, trốn Sài Gòn lên Đà Lạt, lại gặp người Sài Gòn cũng đang lang bạt chốn này. Chúng tôi quyết mướn con xe số cũ thay phiên nhau cầm lái ruổi rong khắp miền cao nguyên.
***
Oanh bảo Minh ở trên đồi Côi. Tôi không ngạc nhiên. Bởi sau lần gặp của chuyến ruổi rong ấy, tôi vẫn nghĩ Minh thuộc về vùng đất này. Chẳng biết vì sao tôi lại đeo mang suy nghĩ ấy suốt bao năm trời. Ngày đó, tôi cùng Oanh lang thang trên đường đi kiếm vườn hồng thì gặp Minh. Gã trai Sài Gòn chánh gốc, mê săn ảnh, và con xe máy khá hầm hố đã lang thang đất này mấy mùa rồi. Gã thấy chúng tôi ngồi lại bên ven một triền đồi thì tấp xe vào. Những tưởng xe chúng tôi hư, nhưng hóa ra chúng tôi chỉ nghỉ mệt bởi chặng đường từ khu trung tâm vào thung lũng quá dài và nhiều đèo dốc liền kề. Gã cười hềnh hệch, rồi tự động ngồi xuống nghỉ ké. Hóa ra là cùng đường vào thung lũng để ngao du. Thế là thành bộ ba bạn đường. Minh nhiệt thành, chuyến đi dài đó chúng tôi có thêm Minh như thêm một anh chàng hướng dẫn, dẫu đôi lúc vẫn phải tấp vào nhà dân để hỏi đường. Dĩ nhiên, trong bộ ba ấy, Minh là tay ảnh chụp cho Oanh nhiều bức hình rất đẹp.
Sau này, chúng tôi về lại Sài Gòn thì thành một nhóm bạn phượt cùng nhau. Lần chuẩn bị cho chuyến săn mây vào mùa đông năm đó, Minh dẫn Nam đến. Cậu trai trẻ vừa tốt nghiệp, đang công tác tại một tòa soạn báo và chuyên viết mảng du lịch. Thế là đủ bốn người và hai chiếc xe để đèo nhau đi bất cứ nơi đâu. Có thể đón bình minh ở Ma Thiên Lãnh. Hay lên tận Putaleng với những mùa hoa đỗ quyên rực rỡ nhất. Sau những tháng ngày quăng quật mình với cơm áo gạo tiền nơi thị thành nắng mưa hai mùa đan xen, chúng tôi lại í ới hẹn nhau. Đời còn đi được cứ đi. Tuổi trẻ nào cũng cần một chút máu phiêu du để ngày sau chẳng tiếc nuối. Minh nói vậy, và luôn xốc chúng tôi vào những cuộc ruổi rong.
Nhưng cánh chim thiên di nào rồi cũng có lúc tìm về tổ ấm. Minh ngỏ lời với Oanh cũng vào một mùa thu đầy sương của hơn chục năm trước. Tôi nhớ mình đã hỏi Oanh nghĩ kỹ chưa. Đừng vội vàng chỉ vì mùa đã tàn thu hiu hắt lên tuổi mình. Ngày đó, Oanh đã đi qua tuổi ba mươi. Oanh bảo con gái có thì mày ơi! Mấy năm trời trên mọi chuyến đi luôn là Minh đèo Oanh và Nam đèo tôi. Minh chăm Oanh kỹ, chuẩn bị cả những điều chỉ phụ nữ mới hiểu. Tôi nhớ có lần chúng tôi ngủ trên A Pa Chải. Đêm đó Sín Thầu lạnh căm. Gió mùa đông sắt lại. Cơn buốt cứ rít lấy da thịt chúng tôi. Đêm đó Oanh đau bụng âm âm. Đang trầy trật ngồi đoán già đoán non xem thức ăn hay thức uống thì chỉ chốc sau Oanh mặt đỏ bừng chạy vào buồng vệ sinh. Minh chừng như hiểu ý lục trong cái ba lô to đùng của anh ra một gói nhỏ bọc trong chiếc bao xốp đen. Tôi nhìn theo hiểu ngay. Hóa ra Minh để ý cả những tiểu tiết như vậy.
Sau nhiều điều nhỏ nhặt thế, Nam quả quyết Minh đã yêu Oanh. Tôi chẳng tin cho đến chuyến đi lại Đà Lạt, một sớm tinh sương ở vườn hồng, Minh có màn cầu hôn lãng mạn: quỳ hẳn xuống trước Oanh mà ngỏ lời. Gió lay những cành hồng lúc lỉu trái vàng hươm. Sương buổi ban mai đang tan dần. Tôi nhìn trong ánh mắt hai người bạn của mình thấy tình yêu cũng tan vào đấy. Mừng nhưng bắt đầu những lo âu.
***
"Nhóc Dâu đâu?" - tôi hỏi. Oanh bảo nó bám lấy Minh trên đồi Côi với những luống rau, những vườn thủy canh. Chỉ một mình Oanh xuống phố. Quãng đường từ trung tâm về đồi Côi chắc cũng tầm cả giờ chạy xe. Chúng tôi lại ngồi cùng nhau. Hình như là sáu năm mới ngồi với nhau, tại quán cà phê Tùng, và trên Đà Lạt. Nhóm bốn người ngày ấy im lặng rồi mất hút sau cuộc ly hôn của Oanh và Minh, lúc nhóc Dâu chưa tròn một tuổi. Tôi chẳng hiểu lý do gì. Chỉ là đêm đó Oanh gọi điện thoại cho tôi nói sang nhà ngủ nhờ ít hôm. Tôi lờ mờ đoán có chuyện gì to tát lắm bởi khi Oanh đến mang theo lỉnh kỉnh đồ của nhóc Dâu. Oanh chẳng khóc, lại càng không kể, chỉ vỏn vẹn hai từ chia tay thốt ra sau vài đêm gần như thức trắng.
Tôi gọi điện cho Minh và cả Nam. Chúng tôi ngồi ở một góc quán cà phê vỉa hè bạt gió thị thành. Sau khi mảnh đất này đi qua cơn đại dịch, nhiều bộn bề còn in hằn lên nhịp sống của phố xá. Tôi cố gắng đi tìm kiếm một lý do. Nhưng, Minh thở dài thườn thượt. Nam cũng lặng im thả lên thinh không những vòng tròn khói trắng tựa thể số không lơ lửng. Đời đâu phải cứ yêu nhau là đến được với nhau. Hoặc cứ sống bên nhau sẽ là hạnh phúc. Nói thiệt, đôi lúc trả nhau về những con đường cũ có khi mới là niềm vui để sống. Minh khi ấy cũng chỉ là tay chụp hình dạo, thoảng khi có sô chụp hình đám cưới thì lại rày đây mai đó. Cũng có những chuyến săn ảnh cho vài cuộc thi thì đi tuốt luốt tuần lễ hay chục hôm. Vài ba giải thưởng cùng số tiền ít ỏi chẳng thể cáng đáng nổi bếp cơm của gia đình nhỏ. Trăm thứ chi tiêu. Ngàn điều đối diện. Có nhiều người vẫn mang trong mình trái tim của gió. Mà gió thì đời này ai níu được đâu.
Nam khẽ khàng buông lời vào đêm, khi Minh đã rời đi và nhờ tôi chăm sóc giúp mẹ con Oanh. Tôi thở dài theo gió. Gió thị thành chẳng thể làm người ta lạnh. Chỉ là có lúc nào đó, những cơn gió ấy thổi người ta lang bạt qua nhiều nỗi vui lẫn niềm buồn. Qua nhiều rộn ràng hạnh phúc lẫn xao xác độc bước. Nhưng, sau một cuộc tình, chẳng cơn gió nào có lỗi cả.
Tôi nhớ mình đã hỏi Nam, ngay trong đêm ấy. Có phải Nam cũng mang trong mình trái tim của gió, nên Nam bây giờ vẫn độc thân. Nam nhắm mắt lại, ngả lưng vào ghế. Hồi lâu mới chậm rãi quay sang nhìn tôi. Chỉ nhìn thôi chứ chẳng có lời nào thốt ra. Nam hòa vào dòng người thưa thớt của đêm. Tôi lao xao một nỗi buồn. Nỗi buồn cũng chẳng phải tại gió. Nhưng, chúng tôi chia nhau ra những nẻo ruổi rong khác nhau. Hun hút một cõi gió riêng mình.
Minh vẫn thường xuyên gửi tiền phụ Oanh chăm nhóc Dâu. Thậm chí đôi khi gửi thật nhiều. Có lần Oanh hỏi Minh đang phiêu bạt phương trời nào, tiền đâu ra nhiều thế? Minh cứ ừ hử, trả lời qua loa. Thoảng khi nhóc Dâu bệnh vặt. Chỉ vài tiếng sau đã thấy Minh hộc tốc lao về nhà. Một tay Minh chăm sóc, lo toan đủ điều. Chừng nhóc Dâu khỏe lại, Minh lặng lẽ rời đi. Minh để lại trong lòng Oanh nhiều câu hỏi lớn. Cho đến hôm Oanh nhận được điện thoại từ một người lạ, rồi tất tả bắt chuyến bay sớm để lên đây. Minh bảo tại bệnh viện bắt có người ký tên cho ca mổ, nên Minh chẳng biết làm sao, đành phiền Oanh một lần này. Ca mổ sỏi thận của Minh diễn ra êm đẹp. Minh xuất viện về trong tiếng líu lo của nhóc Dâu. Còn Oanh thì bần thần trước căn nhà gỗ cùng trang trại trồng rau sạch của Minh.
Oanh chẳng hỏi gì, Oanh muốn tự Minh phải nói. Nhưng, như bao nhiêu lần, Minh lặng thinh. Oanh đành gọi tôi lên. Bởi Oanh muốn nói một điều mà tôi cũng đã tìm kiếm bấy lâu nay.
***
Tôi theo Oanh về đồi Côi khi chiều mưa dát màn mỏng màu ghi xám lên miền sương này. Minh có khựng lại chút khắc giây khi nhìn thấy tôi rồi cũng cười nhẹ tênh. Minh của sáu năm xa thị thành bặt tăm nay tóc đã nhuốm màu muối tiêu. Thân hình đậm đà sương gió cao nguyên. Nhưng, từ trong ánh mắt Minh nhìn Oanh và nhóc Dâu, tôi lại thấy nồng ấm một nỗi niềm. Khoảnh khắc chúng tôi ngồi trong căn nhà nhỏ, ăn bữa tối giữa tiếng mưa rơi rào rạo tôi lại thấy lòng mình bình yên lạ lùng. Kiểu bình yên khi nhìn Minh nhẹ nhàng đút cơm cho nhóc Dâu. Hay trên bàn cũng chỉ toàn những món Oanh thích. Nếu không phải là tôi, mà là một người lữ khách nào đấy, tránh cơn mưa rừng, an trú vào căn nhà này chắc có lẽ sẽ thấy đây là mái gia đình hạnh phúc. Chỉ là tôi biết, họ chia tay, nhưng vì sao thì cho đến bây giờ tôi cũng chẳng rõ.
Đêm, từ đồi Côi nhìn xuống thung lũng bên dưới nhạt vàng ánh đèn. Oanh đã vào phòng riêng dỗ ngủ nhóc Dâu. Tôi ngồi cùng Minh nghe chuyến mưa ghé lưng chừng đồi. Mưa hắt hiu buồn. Mưa tuôn như chẳng cần một cơn cớ. Tôi nhớ những cơn mưa cao nguyên của ngày trẻ còn ruổi rong. Những cơn mưa rừng thường lạnh hơn mưa nơi phố thị. Mưa buồn len sâu vào cả tâm khảm của mình. Dưới ánh đèn vàng, mưa đổ vệt nghiêng hệt như những sợi tình gieo xuống trần. Cung điệu của đêm cứ thắt thẻo lòng người.
Minh nhìn tôi một đỗi rồi ngập ngừng. Minh hèn quá phải không? Sau quãng dịch ấy, Minh thất bại trong việc đầu tư một xưởng chế tác gỗ mỹ thuật. Minh giấu Oanh. Nợ đầm đìa ra đó. Minh lỡ cắm mất căn nhà vào ngân hàng. Minh chẳng muốn người ta đến xiết nhà, hay con mình nghe chủ nợ to tiếng mắng nhiếc cha. Minh chấp nhận bán căn nhà cũ, mua lại căn nhà nhỏ đủ cho Oanh và nhóc Dâu. Phần nợ nần bạn bè thì Minh chọn cách trả dần. Ban đầu Minh lên Tây nguyên để chẳng ai biết mình. Sau lại dạt về đây làm cho ông chủ vựa chuyên thu mua hoa và nông sản đánh từ Đà Lạt ra miền Trung. Làm rồi cắc củm để dành, mong dựng lại sự nghiệp. Nhưng, ngay khi Minh nằm trên bàn mổ, trước lúc bị chụp thuốc mê, Minh sợ chết. Minh chỉ muốn được thấy Oanh và nhóc Dâu. Hình như qua những gieo neo, người ta mới biết đời mình cần nắm níu thứ gì...
Tôi nhìn Minh, chúng tôi bây giờ đã là những kẻ trung niên, nói như ngày xưa hay đùa là đã đến ngưỡng của mùa thu đời người. Tôi nghĩ những lời này Minh cần nói là với Oanh. Đã đi qua thác ghềnh của niềm tin và nỗi thương, ắt hẳn sẽ lại nắm tay nhau được, dẫu có muộn mằn.
Minh bảo Nam đã giúp Minh một ít tiền để mua lại một miếng đất nhỏ trên đồi Côi này. Minh làm lụng dựng căn nhà nhỏ đơn sơ, rồi cứ vậy mà cày cuốc trồng rau. Từ từ rồi gom vốn và thuê thêm đất chung quanh để tạo ra thành trang trại. Nam cũng chọn đất này, sau khoảng đời trai trẻ lang thang khắp vùng miền. Khác chăng, Nam ở dưới kia, ngay lũng sâu nhạt vàng ánh đèn ấy. Lũng Đợi. Cái tên như nhắc nhớ một nỗi niềm gì đó. Nam làm du lịch vườn. Quán cà phê "Trái tim của gió" được nhiều người thích lắm! Những mùa hồng hươm vàng trong gió thu, khu vườn ấy rợp bóng người. Nhưng ông chủ vườn hồng thì vẫn cô đơn.
Bất giác tôi nghe gió rít qua da thịt mình. Cơn mưa quật vào đêm những thanh âm tao tác. Minh đã vào trong nhà. Tôi vẫn ngồi ngoài hiên nhìn xuống lũng Đợi. Tôi nhớ, ngày mình hỏi có phải Nam cũng mang trái tim của gió hay không? Nam chẳng trả lời. Mãi sau này, trước khi Nam bảo có chuyến đi làm ăn xa, tin nhắn cuối cùng từ biệt tôi, Nam nói gió đến, gió đi, nhưng rồi gió sẽ về. Chỉ là những mùa gió về có kịp trước heo may cạn thu của đời người hay không mà thôi!
Tôi xòe tay hứng những giọt nước lạnh. Mưa vẫn rơi trên cao nguyên hiu quạnh. Tôi nhớ có lần Oanh bảo, bốn đứa chúng tôi luôn biết thương nhau. Chỉ là mỗi Oanh con gái, nên mới thể hiện ra thôi! Sau bao mùa trôi, giờ ngồi lại, nửa cuộc trần ai, tôi tự hỏi liệu mình cũng là người mang trái tim của gió?
Có một điều, chắc chắn, sớm mai trời tạnh cơn mưa, tôi sẽ xuống lũng Đợi, tìm một mùa hồng.