“Đại giảng đường” ở bìa rừng…
Đầu năm 1966, Trường Đại học Sư phạm được lệnh sơ tán về Đại Từ (Thái Nguyên). Hiệu bộ, các phòng ban, lãnh đạo các khoa đều có tiền trạm trước đó một tháng, lập các “đại bản doanh” để đón chúng tôi lên đại ngàn.
Lớp tôi được bố trí lên hai ô tô tải do lớp trưởng và lớp phó “chỉ huy”. Xe đi suốt đêm và gần sáng thì tới nơi ở mới. Mệt và buồn ngủ, chúng tôi chỉ kịp mang đồ đạc lên sàn nhà, rồi chào ông bà chủ trước khi ngủ say sưa cho đến tận trưa hôm sau.
Dỡ nhà đi sơ tán (Ảnh: HNUE).
Nhóm tôi chỉ có ba chị em ở một nhà người Tày. Hai bác chủ nhà chừng hơn 60 tuổi, có ba người con đều đã ra ở riêng. Họ đều về đón tiếp chúng tôi vui vẻ, nồng hậu. Tất cả nhìn chúng tôi trìu mến, cảm thông.
Sáng hôm sau từ trong bản từng tốp chúng tôi đổ ra bãi đất trống ở chân đồi. Men theo con đường mòn nơi bìa rừng rất ngoằn ngoèo và khó đi khoảng hơn một cây số thì đến “đại giảng đường”. Đó là khu đất bằng phẳng ở bìa rừng rộng chừng 300m2, bên cạnh có con suối cạn, dòng nước nhỏ trong veo, lững lờ chảy.
Khung nhà của “giảng đường” đã được các bác trong bản chặt gỗ và tre nứa dựng xong, vấn đề còn lại là phải chặt lá cọ để lợp mái và làm tường bao, tránh mưa gió. Hầm hố trong giảng đường đã được đào, tre nứa còn ngổn ngang để làm bàn, làm ghế và nắp hầm.
Một số anh chị lớn tuổi có “tay nghề” trèo lên mái và thoăn thoắt lợp từng lớp lá. Tôi được phân công chân “loong toong”, vui lắm. Các anh, chị sai vặt “Ngọc đưa nắm lạt đây”, “Ngọc đưa tàu lá kia”,... Tôi cứ tíu tít, cuống cả lên, toe toét cười.
Đầu tuần sau, giảng đường được “khánh thành”. Bước vào lớp thấy toàn một màu xanh tươi mới của núi rừng: mái nhà, tường bao, bàn, ghế và nắp hầm hào,.. dưới lớp tất cả đều một màu xanh tre nứa lá, trừ mỗi cái bảng viết của thầy là màu đen.
Cứ ba người một nhóm được phát một tập giáo trình in Rônêô, nhòe lắm. Tối đến cả nhóm chụm đầu bên ngọn đèn dầu học bài. Mùa đông thường phải quàng thêm cái chăn kín đầu, kín lưng. Gia chủ thương, để bếp lửa suốt đêm cho chúng tôi được ấm.
Người sang nhất là có một chiếc áo bông, một cái áo len. Không mấy người có tất chân và khăn quàng cổ. Mấy chị em tôi cậy nhờ mua được hai cái chăn len màu cỏ úa. Chúng tôi tháo ra thành sợi, tự đan áo len vừa ấm vừa rất… thời trang.
Cách lớp học chừng 200m có một mạch suối ngầm ngày đêm rỉ rả chảy và một cái hố to ở dưới chân đồi trọc. Dân trong bản hướng dẫn các anh chị lớn đào sâu thêm, mở rộng hố rồi tìm đá xếp xung quanh. Một cái giếng nước xinh đẹp, xanh như viên bích ngọc khổng lồ đường kính chừng 3m được tạo thành, nước lúc nào cũng đầy, trong veo, sạch sẽ và rất lạnh. Một cái nhà tắm nhanh chóng được dựng lên bằng tre nứa, có cửa ra vào kín đáo.
Chị em chúng tôi thường mượn nồi của chủ nhà đem ra giếng tìm lá và củi khô đun nước sôi, pha tắm rất thoải mái. Còn các anh con trai, thường rất dũng cảm không “thèm” đun nước bao giờ. Cứ trưa đến là ra giếng tranh thủ nắng ấm múc nước dội ào ào, thế mà không ai bị viêm phế quản.
Có vài hôm trời rét quá, sương mù dày đặc lớp phải chuyển sang học buổi trưa. Thỉnh thoảng cả lớp lại phải tạm dừng nghe giảng bởi một hồi kẻng từ đầu bản khua lên giục giã, hối hả báo máy bay địch.
Cả lớp nhanh chóng tụt xuống dưới hầm, kéo nắp lên đậy. Tôi cùng một chị nữa chạy ra bờ suối cạn, nép vào một gốc cây, mặt tái mét. Lúc sau tiếng kẻng báo yên khoan thai, dịu dàng, chậm rãi. Chúng tôi lại lục tục chui lên, phủi đất bụi, ngồi vào bàn như chưa có chuyện gì xảy ra.
Tôi bị anh lớp trưởng (anh Hiển) mắng xơi xơi “Con bé này, không bảo được, nói bao lần rồi vẫn thế, ra bờ suối tránh sao được mảnh đạn!”, tôi phụng phịu “Nhưng em sợ đỉa lắm!”.
Vui nhất khi phu nhân bác Giáp về dạy
Tan lớp, chúng tôi ùa sang bếp ăn ở bên kia suối cạn. Tô cơm của ai người nấy bưng. Trong tô cơm có mấy cọng rau rừng xanh hoặc măng xào. Còn tô canh cũng được nấu bằng măng tươi hoặc sắn.
Một tuần được hai hoặc ba bữa là có vài miếng đậu kho hoặc thịt. Mỗi người chọn một gốc cây hoặc vào lớp học ngồi ăn ngon lành. Đôi khi bữa ăn chỉ là một cái bánh bột mì không nhân, được luộc lên (chứ không phải hấp vì không có bột nở). Chắc là bột mì để lâu nên trong bánh nhiều lần có cả những con bọ gạo bé như hạt tấm màu đen đen.
Lãnh đạo, giảng viên và sinh viên khoa Lịch sử ở Đại Từ (Thái Nguyên) năm 1966 (Ảnh: HNUE).
Ăn xong lại ào xuống con suối cạn rửa bát, rửa thìa rồi xếp vào chỗ cũ trên giàn bếp để bữa sau chị nuôi lại chia cho từng người. Một hôm, đang rửa bát bỗng tôi nhìn thấy một… thím cua có hai cái càng rất to đang tìm thức ăn dưới dòng nước. Tôi vội đưa tay bắt lấy. Không ngờ, cua còn nhanh hơn, giơ càng cắp ngón tay tôi.
Đau quá, tôi kêu toáng lên. Mọi người cười ngặt nghẽo và trêu “Tiểu thư ơi, đã biết thế nào là bắt cua rồi đấy”. Một chị đập thật mạnh vào tay tôi, thím cua buông càng rơi tõm xuống suối.
Có vài hôm do nước lũ hoặc chiến sự lương thực không về bếp được chúng tôi phải tự túc. Nhà chủ thường cho ăn cơm mỗi khi bếp tuyên bố “giải tán”. Chúng tôi mượn con dao rừng cầm theo cái bao diêm. Từng tốp rủ nhau vào rừng, lên đồi tìm măng hoặc mót lại khoai, sắn ở các đồi dân vừa thu hoạch.
Những cây sắn, dây khoai còn sót lại những củ bé hoặc gãy chúng tôi nhặt lên rồi vơ cành cây, lá rừng nướng tại trận vừa thổi phù phù, vừa ăn ngon lành, vừa trêu chọc nhau.
Mặt mũi ai nấy nhem nhuốc, quần áo đầy bụi than nhưng vui lắm. Khi khát nước đã có những cây nứa non chặt ra mấy đốt, nước trong ống rất ngon. Ăn uống thế mà chúng tôi chẳng ai đau bụng cả.
Thỉnh thoảng, có mấy thầy trong khoa đến thăm và thông báo tin chiến thắng ngoài mặt trận. Đôi khi các thầy còn cho mấy đứa con gái chúng tôi những lát bánh mì khô mang từ Hà Nội lên làm quà.
Vui nhất là một đợt cô Hà (phu nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) về dạy. Có tối, cô cho gọi mấy chị em gần nơi cô ở đến nhà, cô bật đài bán dẫn cho nghe và cho mỗi người vài cái kẹo.
Thỉnh thoảng lại có ca sĩ nào hát những bài quen thuộc thật vui. Bấy giờ, với chúng tôi đó là đại tiệc. Thầy Tế, thầy Liên, thầy Quýnh, thầy An (Khoa Lịch sử),... thỉnh thoảng ghé thăm chúng tôi và còn chụp ảnh kỷ niệm có cả bác chủ nhà (bức ảnh ấy tôi đã tặng lại cho Khoa).
Một đêm trăng đẹp, một thầy nào đó ở hiệu bộ xuống chơi, đệm đàn Guitar cho chúng tôi hát. Cả lớp tập trung ở một sân đất rộng, mang đèn dầu chứ không được đốt lửa trại đề phòng bị oanh tạc.
Cả lớp lại hát những bài quen thuộc, tiếng đàn réo rắt, tiếng vỗ tay hoan hỉ. Bao nhiêu khó khăn gian khổ bay đi hết. Riêng tôi bị “động viên” phải đi mấy bước Chăm Pa và Lăm Vông. Mọi người hát theo và vỗ tay cổ vũ. Chả là, năm trước tôi ở đội tuyển múa của trường và học lỏm được những điệu múa duyên dáng ấy.
Mấy phút sau có một em gái con bác chủ nhà tự bao giờ đã đứng xem chúng tôi hát múa. Em nhanh chóng sóng đôi cùng tôi, đi một, hai vòng Lăm Vông. Cả lớp lại cười vang thật là náo nhiệt, vui vẻ.
Cao lương mĩ vị nơi đại ngàn
Cứ một tháng thì mới có người mang thư từ hiệu bộ tới. Ai có thư thì mặt mày rạng rỡ, nếu không có thì buồn tủi, ủ dột nhìn đến thương. Có những chiều nhớ nhà, nhớ Hà Nội, tôi chạy ra cổng đứng lặng một mình.
Dưới chân đồi, bên kia thung lũng bếp nhà ai lập loè ánh lửa hồng. Trên mái tranh, khói lam chiều vấn vít rồi lả lướt bay nhanh theo chiều gió và trốn mất sau những tán cây rừng. Tiếng suối xa róc rách, cánh rừng ngút ngàn. Tiếng chim gọi bầy xa vắng, khắc khoải.
Ngẩng lên bầu trời xanh thăm thẳm, mây trôi lững lờ, mấy cánh chim mải miết bay về đâu tha thiết. Tự lúc nào, nước mắt rơi lã chã ngỡ chiều buông, sương sa sớm làm ướt tà áo mỏng. Bố mẹ và các em tôi sơ tán theo đơn vị bộ đội (cục quân dược). Do bí mật nên tôi không biết rõ ở đâu.
Bác chủ nhà thương chúng tôi, cho đủ thứ. Dầu thắp đèn phải phân phối không đủ dùng, bác chủ sẻ cho một ít. Thỉnh thoảng lại dúi cho vài củ khoai sắn để tự nướng ăn nên chúng tôi không bao giờ bị đói.
Nhớ nhất là mùa cốm năm ấy, không biết gia đình lấy lúa từ bao giờ, ở đâu và rang giã thế nào. Nhưng chiều hôm ấy đi học về bác chủ nhà bưng cho chúng tôi mỗi người một bát cốm đầy, xanh và thơm ngát lại có cả đậu xanh rắc lên. Đây là lần đầu tiên trong đời (mười bảy tuổi rưỡi), tôi mới nhìn thấy và được ăn cốm. Trời đất ạ! Ngon quá chừng.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày nay (Ảnh: Hồng Hạnh).
Giữa thời chiến tranh loạn lạc mà chúng tôi được thưởng thức một loại cao lương mĩ vị như thế này nơi đại ngàn! Dư vị ngọt ngào cao sang đến kì lạ ấy! Sáu mươi năm rồi vẫn còn nguyên cảm xúc.
Thấm thoát chúng tôi đã sống giữa đại ngàn được gần một năm. Ơn trời cả lớp đều khoẻ mạnh, học tốt. Không ai phải thi lại hay lưu ban cả. Chiến trận cũng dần bớt ác liệt hơn. Trường và Khoa có lệnh được sơ tán về dưới xuôi.
Tạm biệt gia chủ! Tạm biệt dòng suối cạn, cánh rừng và khu “giảng đường” một thời gắn bó yêu thương, tình nghĩa. Đại ngàn đã bao bọc, nuôi dưỡng, rèn luyện và thử thách chúng tôi trong gần trọn một năm. Khó khăn, gian khổ nhưng đầy kiêu hãnh và vui vẻ. Nhờ vậy mà chúng tôi trưởng thành, khôn lớn.
Sáu mươi năm trôi nhanh như tia chớp,
Nhớ con đường mòn, dòng suối cạn, cánh rừng sâu,
Và những con người của muôn năm cũ, bây giờ biết tìm đâu!
Hà Nội, tháng 10 năm 2026.
Đài Lân