- Phóng viên: Thực tế cho thấy chúng ta chưa khai thác thật sự đầy đủ văn hóa biển, đảo (VHBĐ) để trở thành một động lực phát triển du lịch và kinh tế biển. Vậy theo các chuyên gia cần cách tiếp cận ra sao nhằm phát huy thế mạnh và tháo gỡ kịp thời điểm nghẽn?
- PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam: Nói đến VHBĐ, bên cạnh lễ hội và các giá trị lịch sử, truyền thống, còn có một đặc trưng quan trọng là văn hóa ứng xử với phạm vi rộng, từ cách ứng xử giữa con người với nhau đến cách con người ứng xử với thiên nhiên và môi trường biển. Biển là một môi trường khắc nghiệt. Người dân sống ven biển, trên các đảo hay những người lao động trên biển luôn phải đối mặt với những rủi ro do thiên tai, nhân tai, nhất là từ biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương (Ocean change) và những điều kiện sống khác biệt. Trong bối cảnh hiện nay, những yếu tố đó càng rõ nét hơn trong việc hình thành cách ứng xử rất riêng của con người với biển.
VHBĐ gắn rất chặt với văn hóa ngư nghiệp và điều kiện tự nhiên của từng vùng. Chính sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, sinh thái và phương thức sinh kế đã tạo nên những sắc thái văn hóa khác nhau giữa các vùng miền, do đó khi khai thác để phát triển du lịch, chúng ta cần chú ý đến yếu tố đặc thù này.
- GS, TS Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam: Thời gian qua, nhận thức về bảo tồn và phát huy giá trị VHBĐ trong liên kết vùng đã có những chuyển biến khá rõ. Các lễ hội gắn với ngư nghiệp, với tín ngưỡng thờ thần linh biển, nghề thủ công, ẩm thực, tri thức dân gian về biển, các làng chài cổ… được kiểm kê, phục hồi, quảng bá và kết nối với sản phẩm du lịch. Một số tuyến, chuỗi du lịch liên tỉnh, liên vùng ven biển cũng từng bước hình thành, tạo điều kiện kết nối di sản với cảnh quan, sinh thái và đời sống cộng đồng.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là liên kết chưa thật sự trở thành một cơ chế phát triển. Nhiều địa phương vẫn khai thác tài nguyên theo địa giới hành chính, sản phẩm khá giống nhau, thiếu sự phân vai và bổ trợ lẫn nhau. Liên kết giữa văn hóa với du lịch, giao thông, thương mại, môi trường và quy hoạch không gian biển còn thiếu đồng bộ; giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các nhà nghiên cứu cũng chưa hình thành được cơ chế phối hợp, chia sẻ lợi ích bền vững.
Một bất cập khác là chúng ta còn thiên về khai thác “phần nhìn thấy” của di sản để phục vụ du lịch, trong khi tri thức biển, ký ức cộng đồng, kỹ năng nghề, nghệ thuật trình diễn và lối sống của cư dân biển chưa được chuyển hóa thành những sản phẩm có chiều sâu. Ngược lại, ở một số nơi lại xuất hiện nguy cơ thương mại hóa, sân khấu hóa di sản và gây sức ép lên môi trường.
Vì vậy, cần chuyển từ “liên kết điểm đến” sang “liên kết hệ sinh thái”, từ khai thác từng di sản riêng lẻ sang kiến tạo chuỗi giá trị VHBĐ liên vùng, trong đó cộng đồng cư dân biển phải là chủ thể và bảo tồn phải trở thành nền tảng của phát triển.
- Ông Phùng Quang Thắng, Phó Chủ tịch Thường trực Liên chi hội Lữ hành Việt Nam: Lâu nay chúng ta thường tập trung khai thác sức hấp dẫn tự nhiên của biển xanh - cát trắng - nắng vàng mà chưa khai thác đầy đủ “chiều sâu văn hóa” của đại dương bao la chính là nơi người dân bám biển, thích ứng với biển, nuôi trồng đánh bắt hải sản, dựng xây và đắp bồi nên một nền VHBĐ đặc sắc, đa dạng và phong phú. Các vỉa tầng văn hóa bản địa độc đáo ẩn giấu trong đời sống thường ngày của từng cộng đồng cư dân, từng làng chài ven biển luôn là những “thỏi nam châm” tỏa ra lực hút khó cưỡng với du khách. Bởi thế, “du lịch biển” Việt Nam cần chú trọng tới một cách tiếp cận rộng mở hơn và đầy đủ hơn, đó là “du lịch văn hóa biển”. Khai thác tốt yếu tố văn hóa sẽ tạo chiều sâu và sự khác biệt nhiều hơn cho thương hiệu du lịch biển nước nhà.
- Bà Đàm Lan, Phó Viện trưởng Nghiên cứu và Phát triển tri thức cộng đồng: Nhắc đến kinh tế biển, chúng ta thường nghĩ đến khai thác cảng biển, thủy sản và cảnh quan thiên nhiên. Tuy nhiên, còn có một nguồn tài nguyên đặc biệt: Tín ngưỡng dân gian hình thành trong quá trình dân cư sống, lao động và thích ứng với biển. Vùng biển đảo miền bắc với tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải cai quản miền nước; Đức Thánh Trần, thần Nam Hải bảo hộ các chuyến ra khơi; ở miền trung, Nam Bộ và các đảo ven bờ, thờ cá Ông che chở, cứu giúp người đi biển. Các lễ hội thể hiện lòng biết ơn, tưởng nhớ tiền nhân, cầu mong bình an, trao truyền kinh nghiệm đi biển và củng cố mối quan hệ cộng đồng.
Từ đó, du lịch VHBĐ cần được phát triển dựa trên chuỗi giá trị liên kết giữa tín ngưỡng, cộng đồng, doanh nghiệp và công nghiệp sáng tạo, để du khách vừa thưởng thức cảnh quan, vừa được tìm hiểu cách người dân sống cùng biển. Ngoài tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, nguồn thu đó còn có thể quay trở lại phục vụ bảo tồn, truyền dạy và duy trì không gian văn hóa.
- Phóng viên: Để những giá trị văn hóa biển không chỉ tạo ra động lực tinh thần, mà còn tạo sinh kế, thật sự trở thành động lực phát triển, cần có chiến lược và triển khai hành động thế nào, thưa chuyên gia?
- PGS, TS Nguyễn Chu Hồi: Theo tôi, trước hết chúng ta cần thay đổi tư duy về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, theo hướng lấy văn hóa làm nguồn lực cho phát triển và phát triển công nghiệp văn hóa (tức là văn hoá tạo ra tiền).
Di sản, hiểu theo nghĩa rộng là những giá trị được để lại cho các thế hệ sau. Chúng ta đang phát huy những giá trị di sản do thiên nhiên ban tặng như di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, các vịnh đẹp Nha Trang, Lăng Cô, các vùng biển ở Côn Đảo, Phú Quốc,…; đồng thời có những di sản do con người tạo dựng nên, như phố cổ Hội An, thành cổ Huế, Thánh địa Mỹ Sơn,...
Trong phát triển, chúng ta cần chú ý nhiều hơn đến việc tạo ra những giá trị mới nhưng có khả năng trở thành di sản có ý nghĩa trong tương lai. Nếu xây dựng các công trình ở tầm vóc phù hợp với những tiêu chí quốc tế, lồng ghép được tư duy văn hóa biển Việt Nam và đặc trưng của từng địa phương, thì công trình hôm nay có thể trở thành di sản ngày mai. Khi đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế.
Chẳng hạn, Quảng Ninh xây dựng Bảo tàng Quảng Ninh với hình thức kiến trúc gợi liên tưởng đến than đá, một sản phẩm đặc trưng của vùng đất này. Khi đặc trưng địa phương được đưa vào kiến trúc, công trình không chỉ là một tòa nhà bảo tàng thông thường mà còn trở thành một sản phẩm văn hóa, có câu chuyện để kể và có khả năng thu hút du khách.
Ở những địa phương khác cũng có những hướng đi tương tự. Ghềnh Đá Đĩa ở vùng ven biển Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk) hay Nhà hát Đó ở ven vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đều cho thấy những yếu tố tự nhiên, văn hóa và kiến trúc có thể được kết hợp để tạo nên những sản phẩm du lịch mới. Đòi hỏi đặt ra là cần có tư duy rộng hơn về văn hóa biển, chứ không chỉ bó hẹp trong lễ hội hay những giá trị truyền thống.
Tôi cũng đề xuất ý tưởng xây dựng một “Trung tâm học tập về đại dương - Ocean Learning Center”, nơi người dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên có thể tìm hiểu về đại dương thông qua công nghệ, phim ngắn về câu chuyện biển/đại dương. Chúng ta có thể ứng dụng công nghệ 3D để mô phỏng quá trình hình thành đại dương, các hệ sinh thái biển, rạn san hô; xây dựng những “Vườn ươm san hô”, tái tạo hệ sinh thái biển và khi xem xong tổ chức cho du khách tham quan, trải nghiệm.
- GS, TS Từ Thị Loan: Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề quan trọng không chỉ là bảo tồn được bao nhiêu di sản VHBĐ, mà là làm thế nào chuyển hóa các giá trị ấy thành nguồn lực phát triển mới nhưng không làm suy giảm chính nguồn lực đó. Muốn vậy, trước hết cần thay đổi tư duy từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị trên nền tảng văn hóa, con người và hệ sinh thái biển.
Trước hết, mỗi vùng biển cần nhận diện rõ những giá trị đặc trưng để xây dựng sản phẩm khác biệt. Có nơi có thể tạo dấu ấn bằng di sản thương cảng, nơi bằng văn hóa làng chài, tín ngưỡng và lễ hội biển, nơi bằng ẩm thực, nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian hoặc tri thức bản địa về khai thác và ứng xử với biển. Từ đó hình thành chuỗi sản phẩm và tuyến du lịch văn hóa biển liên vùng, bổ trợ thay vì cạnh tranh lẫn nhau.
Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh các sản phẩm có hàm lượng văn hóa và sáng tạo cao và các sản phẩm công nghiệp văn hóa lấy cảm hứng từ biển; đồng thời phải xác định sức chứa của điểm đến, bảo vệ môi trường, hạn chế thương mại hóa và khai thác quá mức. Mục tiêu cao nhất không phải là thu hút thật nhiều khách, mà là tăng giá trị trên mỗi trải nghiệm, kéo dài thời gian lưu trú, nâng cao sinh kế cộng đồng và tái đầu tư cho bảo tồn.
- Bà Đàm Lan: Muốn khai thác và phát huy nguồn lực tín ngưỡng hiệu quả để du lịch VHBĐ thành mũi nhọn kinh tế biển, trước hết cần nghiên cứu và diễn giải đúng giá trị của tín ngưỡng. Từ một ngôi đền, miếu, lăng có thể quy hoạch thành không gian giới thiệu lịch sử; từ nghi thức, lễ hội có thể xây dựng tour trải nghiệm văn hóa; từ tri thức dân gian về thời tiết, con nước có thể phát triển thành các chương trình giáo dục về biển; từ những kinh nghiệm của ngư dân có thể sáng tạo phim, âm nhạc, sách, sản phẩm số...
Phát triển kinh tế biển bền vững ngoài khai thác những gì biển có, còn đánh thức những giá trị mà con người đã vun đắp trong quá trình sống cùng biển. Cần chuyển từ tư duy “khai thác nguồn lực để đón khách” sang “phát triển du lịch trên nền tảng giá trị văn hóa sống”. Nhà nước xây dựng chính sách và hạ tầng; nhà nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học; doanh nghiệp đầu tư và tổ chức khai thác; cư dân biển đảo giữ vai trò chủ thể, đồng sáng tạo và hưởng lợi. Khi đó, tín ngưỡng dân gian không bị tách khỏi đời sống để phục vụ du lịch, mà chính sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa trở thành nền tảng tạo ra giá trị kinh tế.
- Ông Phùng Quang Thắng: Để du lịch và khám phá văn hóa trở thành hai mặt không thể tách rời của du lịch văn hóa biển, phải bắt đầu bằng việc thống kê chi tiết và khoa học nhất nguồn tài nguyên VHBĐ mà từng địa phương được trao truyền và sở hữu. Không chỉ dừng lại ở liệt kê số lượng di tích, tất cả những sắc màu văn hóa - từ lịch sử hình thành, kiến trúc, không gian văn hóa đặc trưng, tín ngưỡng, lễ hội, ẩm thực đến kho tàng tri thức bản địa đều là tài sản quý giá để xây dựng sản phẩm du lịch. Việc nghiên cứu tài nguyên tự nhiên như cấu tạo địa chất, địa hình, khí hậu từng vùng biển đảo tác động đến đời sống con người ra sao, cũng rất có giá trị để tôn vinh văn hóa bản địa.
Tiếp nữa, việc số hóa nguồn dữ liệu khổng lồ đã thu thập, cấp mã số “định danh” cho từng tài nguyên cụ thể sẽ mang lại hiệu quả tích cực, giúp phân hạng, xác định nguồn gốc và góp phần bảo vệ những giá trị sáng tạo mang tính đặc trưng của cộng đồng địa phương. Nguồn dữ liệu đó sẽ trở thành tài sản chung của các đơn vị quản lý và khai thác giá trị văn hóa, là kho tư liệu quý giá mà các đơn vị lữ hành muốn xây dựng sản phẩm, nhà đầu tư muốn khởi động và điều hành dự án... đều có thể tiếp cận, nghiên cứu.
Xây dựng sản phẩm du lịch VHBĐ phải tạo thành một hệ sinh thái thống nhất thay vì để mỗi đơn vị “mạnh ai nấy làm” với một vài điểm đến, dịch vụ nhỏ lẻ, manh mún. Chú trọng xây dựng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng như trải nghiệm nghề làm mắm, đánh bắt tôm cá, đóng thuyền, đan lưới, lễ hội cầu ngư, văn hóa ẩm thực biển, nghệ thuật dân gian...; phát triển kinh tế đêm tại khu vực biển đảo một cách bài bản, phù hợp; đẩy mạnh hợp tác công tư PPP (Nhà nước quản lý di sản, tư nhân khai thác dịch vụ). Việc sử dụng các tác phẩm điện ảnh như một công cụ quảng bá giá trị VHBĐ nước nhà ra thế giới cũng là cách làm rất hiệu quả.
HOÀNG THIỆN – ANH PHƯƠNG
(Thực hiện)