Bỏ qua điều hướng
•

Đầu tư phù hợp cho công nghệ chiến lược

Đầu tư phù hợp cho công nghệ chiến lược
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chủ trương phát triển công nghệ chiến lược đang được cụ thể hóa bằng việc hoàn thiện thể chế, xác định các hướng nghiên cứu ưu tiên và phê duyệt các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Động lực từ khu công nghệ số tập trung Làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm tại Việt Nam Thành lập đoàn kiểm tra Trung t...

Tuy nhiên, để các nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa, cần tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp và có cơ chế đầu tư phù hợp cho từng nhóm công nghệ.

Những kết quả bước đầu

Tính đến ngày 25/9/2026, đã có 14 nhiệm vụ công nghệ chiến lược được phê duyệt và trong tháng 11 và 12 tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ lựa chọn tổ chức chủ trì, ký hợp đồng triển khai thực hiện. Dự kiến giai đoạn 2027-2028, nhóm nhiệm vụ có thời gian thực hiện 18-24 tháng sẽ kết thúc; giai đoạn 2029-2031, nhóm nhiệm vụ 36-60 tháng sẽ kết thúc. Đây là những kết quả bước đầu triển khai Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg về danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Để các nhiệm vụ nghiên cứu đi đến kết quả thực chất, cần tiếp tục giải quyết những hạn chế về năng lực nghiên cứu, quy mô doanh nghiệp trong nước, nguồn vốn dài hạn và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo các chuyên gia, năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ của Việt Nam hiện nay cần được xem xét không chỉ qua quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược mà còn qua cơ cấu doanh nghiệp tham gia, vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị và mức độ sẵn sàng thương mại hóa của từng nhóm sản phẩm.

Thực tế cho thấy, số lượng doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược tương đối lớn, tạo ra tổng doanh thu hàng chục tỷ USD. Tuy nhiên, phần lớn doanh thu thuộc về khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, doanh nghiệp Việt Nam đã hiện diện ở hầu hết các nhóm công nghệ chiến lược và bước đầu có sản phẩm được thương mại hóa.

Tuy nhiên, quy mô hoạt động còn nhỏ, chưa hình thành được các chuỗi sản xuất lớn hoặc thương hiệu đủ mạnh. Cùng với đó, mức độ sẵn sàng thương mại hóa giữa các nhóm sản phẩm không đồng đều. Vì vậy, đối với những sản phẩm đã có thị trường tương đối rõ, cần ưu tiên hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử, kiểm định và mở rộng thị trường. Với những công nghệ mang tính nền tảng, cần có cơ chế đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro nghiên cứu và tập trung nguồn lực đủ lớn.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, một điều kiện tiên quyết khác là cần nhanh chóng lựa chọn, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung, trong đó có hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia theo Quyết định số 1483/QĐ-TTg. Việc này nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng trang thiết bị giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm và doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực tự chủ về khoa học và công nghệ.

Hỗ trợ bảo hộ sáng chế liên quan công nghệ chiến lược

Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao năng lực tạo ra, bảo hộ và khai thác giá trị kinh tế từ công nghệ. Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới cho thấy, trong số 139 quốc gia và nền kinh tế tham gia chỉ số này, Việt Nam có thứ hạng tương đối cao về đăng ký nhãn hiệu (xếp thứ 29), đơn đăng ký giải pháp hữu ích (33) và kiểu dáng công nghiệp (48), trong khi đơn đăng ký sáng chế xếp thứ 63, đơn đăng ký sáng chế quốc tế theo Hiệp ước Hợp tác về sáng chế (PCT) xếp thứ 77 và khoản thu từ việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ xếp thứ 110.

Các chỉ số này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục quan tâm nâng cao năng lực tạo ra các giải pháp công nghệ có khả năng được bảo hộ sáng chế, mở rộng bảo hộ tại thị trường quốc tế và khai thác giá trị kinh tế từ quyền sở hữu trí tuệ. Đây cũng là những yêu cầu quan trọng đối với quá trình phát triển công nghệ chiến lược. Theo lãnh đạo Cục Sở hữu trí tuệ, Việt Nam đã hình thành nền tảng nhất định về nghiên cứu, phát triển công nghệ và xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong những lĩnh vực hiện được xác định là công nghệ chiến lược.

Tính đến ngày 14/9/2026, đã có 1.430 đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam liên quan đến các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Nền tảng đó là cơ sở để kỳ vọng các cơ chế, nguồn lực mới sẽ giúp viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tiếp tục phát triển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm công nghệ chiến lược.

Từ thực tế đó, theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh, cần chuyển từ lắp ráp sản phẩm do nước ngoài thiết kế sang tự thiết kế, sở hữu và kinh doanh công nghệ, phát triển thương hiệu trong nước và kết nối doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu.

Riêng để cải thiện khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn vốn dài hạn, tạo điều kiện để các trường đại học, viện nghiên cứu hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ. Hiện, Cục Sở hữu trí tuệ đã xây dựng các nhiệm vụ hỗ trợ xác lập quyền đối với sáng chế, trong đó chú trọng đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh nộp đơn và xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử, tăng cường số hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình xử lý đơn.

Cùng với đó, Cục đang triển khai hoạt động tư vấn, hỗ trợ tra cứu thông tin sáng chế, đánh giá sơ bộ khả năng bảo hộ, hướng dẫn xác định đối tượng cần bảo hộ và xây dựng hồ sơ đăng ký sáng chế...

Trong giai đoạn tiếp theo, hiệu quả của chính sách phát triển công nghệ chiến lược cần được đánh giá không chỉ qua số lượng nhiệm vụ nghiên cứu, đơn đăng ký sáng chế hay các chương trình hỗ trợ được triển khai, mà còn qua số công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thương mại hóa và sự trưởng thành của doanh nghiệp công nghệ trong nước. Đây sẽ là những kết quả quan trọng để xác định mức độ chuyển hóa nguồn lực đầu tư thành năng lực công nghệ và giá trị kinh tế thực tế.

HÀ LINH

Tiến trình phát triển công nghệ chiến lược tại Việt Nam ghi nhận bước chuyển cụ thể khi 14 nhiệm vụ đã được phê duyệt tính đến ngày 25/9/2026. Bộ Khoa học và Công nghệ đang chuẩn bị lựa chọn tổ chức chủ trì để ký hợp đồng triển khai, với các mốc hoàn thành dự kiến phân kỳ từ giai đoạn 2027 đến 2031. Đây là nền tảng thể chế quan trọng nhằm hiện thực hóa Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg về danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược. Dù các lĩnh vực liên quan đã tạo ra doanh thu hàng chục tỷ USD, phần lớn giá trị kinh tế hiện vẫn thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định các doanh nghiệp trong nước dù đã hiện diện ở hầu hết các nhóm công nghệ nhưng quy mô còn nhỏ và mức độ sẵn sàng thương mại hóa chưa đồng đều. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải phân loại cơ chế hỗ trợ, ưu tiên mở rộng thị trường cho sản phẩm cận thương mại và bảo đảm vốn dài hạn cho nghiên cứu nền tảng. Song song với bài toán vốn, hạ tầng nghiên cứu dùng chung đóng vai trò đòn bẩy quyết định nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Theo các chuyên gia, việc đầu tư đồng bộ mạng lưới phòng thí nghiệm trọng điểm theo Quyết định số 1483/QĐ-TTg sẽ tối ưu hóa hiệu quả khai thác thiết bị giữa viện, trường và doanh nghiệp. Đồng thời, việc củng cố năng lực bảo hộ sáng chế và khai thác giá trị kinh tế từ sở hữu trí tuệ chính là chìa khóa để nghiên cứu khoa học gắn liền với chuỗi giá trị thực chất.
amung