Bỏ qua điều hướng
•

'Dấu vân tay của phố' (kỳ cuối): Rạp chiếu phim và rạp hát Hà Nội xưa

'Dấu vân tay của phố' (kỳ cuối): Rạp chiếu phim và rạp hát Hà Nội xưa
Nguồn ảnh: VnExpress

Trên báo những năm 1928-1929 thường đăng quảng cáo về ba rạp hát ở Hà Nội là tuồng Quảng Lạc, chèo Sán Nhiên Đài, Văn Minh hí viện.

Rạp chiếu phim và rạp hát là những địa điểm giải trí diễn ra các nội dung cập nhật nhất của xu hướng thưởng thức, cũng là không gian gặp gỡ, giao lưu văn hóa của thị dân. Vật đổi sao dời, loại hình phim chiếu rạp và sân khấu đơn lập kiểu cũ (boutique) trong lòng những khu phố nhỏ Hà Nội phần lớn đã không còn hoạt động, thậm chí biến mất. Chúng chỉ còn để lại những cái tên, thứ gần như duy nhất tồn tại để gọi lại ký ức, xác định không gian địa dư của khu phố.

Những quảng cáo trên các tờ báo hằng ngày cho biết tình hình giải trí Hà thành lúc ấy, và phần nổi bật của ''Cuộc vui tối nay'' luôn là các rạp hát và chiếu bóng. Tờ Ngọ báo những năm 1928-1929 mới chỉ có quảng cáo các rạp hát và cũng chỉ có ba rạp hát quen thuộc thường chuyên về một thể loại: tuồng Quảng Lạc (8 Tạ Hiện ngày nay), chèo Sán Nhiên Đài (50 Đào Duy Từ), cải lương hí viện hay Văn Minh hí viện (42 Hàng Bạc).

Một rạp được cho là rạp tuồng đầu tiên của ông Thông Sáng mang tên Kinh Kỳ hí viện (khoảng ngã ba Hàng Quạt - Lương Văn Can hiện nay). Sau khi chèo cải cách, loại hình chèo được nhuận sắc cho hợp với cách thưởng thức mới, dần thoái trào, soạn giả Nguyễn Đình Nghị tìm cách pha trộn với kiểu cách của cải lương để ra đời chèo cải lương. Cải lương hí viện lúc này cũng diễn các vở chèo cải lương và cũng khá ăn khách. Sau đó có thêm một rạp cải lương nữa của gánh Phúc Thắng chuyển từ một rạp nhỏ ban đầu cạnh Quảng Lạc rồi đổi ra Chợ Gạo khoảng 1930 trước khi ở vị trí 211 Khâm Thiên ngày nay và mang tên Phúc Thắng. Các rạp hát ban đầu chủ yếu dành cho người Việt nên dễ hiểu là mang tên Việt. Lúc này "chớp bóng" chỉ là phần phụ để tăng thêm sự hấp dẫn chứ chưa thành hẳn những buổi chiếu riêng biệt, do mới là những bộ phim câm hài ngắn.

Trước khi Nhà hát Lớn (Théâtre municipal) khánh thành năm 1911, ngoài rạp Société Philharmonique ở đường Bờ Hồ (57 Đinh Tiên Hoàng) của hội hiếu nhạc cùng tên có từ năm 1889, không lâu sau khi con đường ven hồ hoàn thiện, còn có một rạp hát của người Hoa ở phố Takou (Hàng Cót), nhưng đã xây lại để làm trường nữ học Brieux vào năm 1912. Rạp Philharmonique đến năm 1939 thêm chức năng chiếu phim, khi lĩnh vực này càng ngày càng thu hút cư dân hơn.

Cinema Trung Quốc, sau là rạp Chuông Vàng. Ảnh: Tư liệu

Cinema Trung Quốc, sau là rạp Chuông Vàng. Ảnh: Tư liệu

Tình hình biến đổi từ đầu thập niên 1930, phim nói, nhất là các phim ca nhạc của Pháp, Hollywood đã cuốn hút khán giả, tạo nên sự ảnh hưởng dội lại các thể loại sân khấu truyền thống hay kịch nói. Các vở diễn đã bắt chước và thêm vào các bài hát Tây (đặt lời ta) trong màn diễn hoặc thêm phần biểu diễn âm nhạc giữa giờ giải lao hoặc trước buổi diễn. Các rạp chiếu bóng trước năm 1945 hầu như đều mang tên Pháp. Năm 1932, theo một thống kê trong Sách nói về thành phố Hà Nội, khi ấy có các rạp Cinéma Palace (42 Tràng Tiền, năm 1940 đổi là Eden), Majestic (45 Hàng Bài), Variété (trước cửa đền Ngọc Sơn, thay cho rạp Pathé trước đó), Family (88 Hàng Buồm), Tonkinois (31 Hàng Quạt, Lương Văn Can ngày nay, vốn là rạp cải lương Năm Chăn, đối diện rạp Kinh Kỳ hí viện cũ). Các rạp đều tập trung quanh khu lân cận hồ Hoàn Kiếm.

Những rạp tiếp theo mở dần ra xa hơn: Olympia (51 Đường Thành, trước cửa chợ Hàng Da), L'Aiglon (Đặng Dung)... Các rạp thường được xây ở giữa các khu dân cư đông đúc, gần những chợ lớn hay các giao lộ dễ gây chú ý cho khách đi đường. Những cái tên Tây này hiển nhiên là ưu thế cho người đã học tiếng Pháp, ví dụ L'Aiglon nghĩa là "đại bàng'', hoặc dân gian sẽ gọi bằng tên phố như gọi là rạp Hàng Quạt thay vì "Cinéma Tonkinois". Ngoài ra những cái tên mang tính biểu tượng phổ thông toàn cầu kiểu Majestic (Hùng vĩ), Eden (Địa đàng), Olympia (tên một địa danh Hy Lạp khởi nguồn cho phong trào Olympic cổ đại) cũng mô phỏng các cách thức đặt tên ở các đô thị thế giới phương Tây. Một số rạp có những cái tên khá bí hiểm như Ciro's, cũng là một cái tên đặt cho một số rạp chiếu phim ở Mỹ hay Anh. Ciro vốn là một từ trong các ngôn ngữ vùng Địa Trung Hải, người Hy Lạp dùng để gọi gió từ Ai Cập, người La Mã dùng để gọi tên người sáng lập đế chế Ba Tư, còn người Tây Ban Nha dùng để gọi mặt trời. Ở đây tên rạp có lẽ đã dùng dấu ''s'' (sở hữu cách, hàm ý "Rạp của Ciro") kiểu tiếng Anh, một ngoại ngữ ít người biết thời bấy giờ.

Phong trào đặt tên rạp theo kiểu Tây thậm chí ảnh hưởng đến những cái tên Việt Nam, chúng được viết theo lối trại ký tự, ví dụ Kingdo thay vì Kinh Đô, Méling thay vì Mê Linh. Một số người cho rằng chúng cũng có hàm nghĩa riêng, song không khó nhận ra phép chơi chữ của chủ nhân các rạp này. Sự đổi tên các rạp cũng diễn ra khá nhiều lần, do sự thay đổi chủ sở hữu hay nhà đầu tư, cũng như gu đặt tên rạp từng giai đoạn.

Kỳ 1, Kỳ 2, Hết.

(Trích sách Dấu vân tay của phố, Nguyễn Trương Quý)

Vào những năm 1928-1929, đời sống giải trí Hà thành được phản ánh sinh động qua mục quảng cáo trên tờ Ngọ báo với ba rạp hát chuyên biệt quen thuộc gồm tuồng Quảng Lạc ở số 8 Tạ Hiện, chèo Sán Nhiên Đài tại 50 Đào Duy Từ và Văn Minh hí viện ở 42 Hàng Bạc. Bên cạnh rạp tuồng đầu tiên mang tên Kinh Kỳ hí viện của ông Thông Sáng tại ngã ba Hàng Quạt và Lương Văn Can, các đơn vị nghệ thuật như gánh Phúc Thắng cũng liên tục dịch chuyển vị trí trước khi dừng chân tại 211 Khâm Thiên. Ban đầu, các rạp chủ yếu phục vụ khán giả bản xứ nên mang tên thuần Việt, trong khi hoạt động chiếu phim câm ngắn chỉ đóng vai trò phụ trợ nhằm tăng tính hấp dẫn cho các suất diễn sân khấu. Cùng với dòng chảy đô thị hóa, bức tranh văn hóa đã có những bước ngoặt lớn kể từ khi rạp Société Philharmonique ra đời năm 1889 ven hồ Hoàn Kiếm và Nhà hát Lớn khánh thành năm 1911. Rạp của người Hoa ở phố Hàng Cót sau đó được chuyển đổi thành trường nữ học Brieux vào năm 1912, còn rạp Philharmonique đến năm 1939 cũng bổ sung công năng chiếu bóng để bắt kịp nhu cầu ngày càng tăng của cư dân. Khi các thể loại kịch hát truyền thống như chèo cải cách thoái trào, sự ra đời của chèo cải lương do soạn giả Nguyễn Đình Nghị khởi xướng đã minh chứng cho năng lực thích ứng linh hoạt của nghệ thuật biểu diễn trước thị hiếu mới. Bước sang thập niên 1930, sự bùng nổ của phim nói từ Pháp và Hollywood đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện, buộc các sân khấu truyền thống phải lồng ghép bài hát phương Tây hoặc biểu diễn âm nhạc vào giờ giải lao. Thống kê năm 1932 cho thấy hầu hết các phòng chiếu thời kỳ này đều mang tên tiếng Pháp như Cinéma Palace ở 42 Tràng Tiền, Majestic tại 45 Hàng Bài, Variété trước đền Ngọc Sơn, Family ở 88 Hàng Buồm và Tonkinois tại 31 Hàng Quạt. Dù hệ thống rạp đơn lập xưa nay phần lớn đã biến mất, những địa danh này vẫn giữ vai trò như tấm bản đồ ký ức độc đáo, khắc họa sâu sắc diện mạo tinh thần của thị dân Hà Nội một thời.
amung