Đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đòi hỏi doanh nghiệp có nguồn vốn ổn định trong nhiều năm. Tuy nhiên, khi tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo, còn các kênh huy động vốn dài hạn chưa phát triển tương xứng, nhu cầu “lớn lên” của doanh nghiệp tiếp tục đối mặt sức ép về kỳ hạn và chi phí tài chính.
Áp lực từ cơ cấu vốn
Hiện nay, để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt cần thị trường và nguồn lực tài chính để đầu tư công nghệ, chủ động nguyên liệu, nâng cấp sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn mới. Với ngành nông nghiệp, nhu cầu vốn của doanh nghiệp không chỉ dành cho vốn lưu động, mà còn phục vụ đầu tư phát triển dự án, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ. Bà Nguyễn Thị Dung, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Việt Thắng chia sẻ, nhờ nguồn vốn trung và dài hạn vay từ Ngân hàng Agribank, doanh nghiệp đã có thêm tiềm lực tài chính để đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, giúp giảm tiêu hao nhiên liệu, chi phí giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, công suất nhà máy tăng từ 3 triệu lên 6 triệu đôi sản phẩm/năm, góp phần mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ hay doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi số, chuyển đổi xanh có chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn khác nhau. Vì vậy, cần có các sản phẩm tín dụng trung và dài hạn phù hợp để doanh nghiệp đầu tư máy móc, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên Đỗ Văn Vẻ
Từ thực tế cộng đồng doanh nghiệp địa phương, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên Đỗ Văn Vẻ cho hay, nguồn vốn là điều doanh nghiệp rất cần. Nhưng quan trọng hơn là tiếp cận được nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp, đúng thời điểm và với chi phí hợp lý để biến cơ hội kinh doanh thành năng lực sản xuất, tăng trưởng thật sự. “Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ hay doanh nghiệp đầu tư chuyển đổi số, chuyển đổi xanh có chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn khác nhau. Vì vậy, cần có các sản phẩm tín dụng trung và dài hạn phù hợp để doanh nghiệp đầu tư máy móc, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh”, ông Vẻ nhấn mạnh.
Điều này càng thể hiện rõ nét đối với các doanh nghiệp lúa, gạo. Theo ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An, trong chuỗi lúa, gạo, nguồn vốn vay dài hạn để xây dựng và lắp đặt máy sấy lúa, silo, máy xay xát… là điều doanh nghiệp bắt buộc cần bởi nếu không đầu tư thì không thể hoạt động, sản xuất kinh doanh xuất khẩu gạo.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Ngọc Hòa cho biết, điểm nghẽn về vốn, nhất là vốn trung dài hạn là khó khăn chung của cộng đồng doanh nghiệp hiện nay; nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng thì chủ yếu giải quyết được nhu cầu vốn lưu động. Vốn đầu tư dài hạn cho các dự án 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí 20-30 năm vẫn là bài toán lớn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng
Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV
Nhìn rộng ra toàn nền kinh tế, theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng. Quy mô này đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực từ nhiều kênh và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Tuy nhiên, cơ cấu cung ứng vốn vẫn nghiêng đáng kể về ngân hàng.
Sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào ngân hàng có nguyên nhân từ cấu trúc hệ thống tài chính. Ngân hàng đã đảm nhiệm đồng thời nhiều nhu cầu, từ vốn lưu động đến đầu tư mở rộng và triển khai dự án. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu, trái phiếu cùng lực lượng nhà đầu tư tổ chức chưa phát triển tương xứng, khiến lựa chọn nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp còn hạn chế. Trong lúc các kênh thay thế chưa đủ mạnh, nhu cầu tài trợ dài hạn tiếp tục dồn lên ngân hàng. Báo cáo của S&I Ratings cho thấy, trong nửa đầu năm 2026, dư nợ trung và dài hạn tăng 11,1%, còn tín dụng ngắn hạn tăng 6,9%. Đây là quý thứ 5 liên tiếp tín dụng trung và dài hạn tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn. Điều đáng lưu ý là sự dịch chuyển ở đầu ra diễn ra trên nền nguồn vốn đầu vào chủ yếu ngắn hạn.
Theo số liệu Công ty TNHH Quản lý Quỹ SSI (SSIAM) công bố, khoảng 80% tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng có thời hạn dưới 12 tháng, trong khi các dự án hạ tầng cần nguồn tài trợ với tầm nhìn từ 10 năm trở lên. “Tài sản dài hạn cần nhà đầu tư dài hạn, không phải người cho vay ngắn hạn”, Tổng Giám đốc SSIAM Nguyễn Ngọc Anh nhấn mạnh.
Sự lệch pha này đặt ngân hàng trước áp lực duy trì thanh khoản trong khi vốn đã được giải ngân vào những dự án thu hồi tiền chậm. Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) nhìn nhận, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng, nhưng không thể là nguồn vốn duy nhất cho các dự án đầu tư dài hạn và hạ tầng. Cần huy động đồng bộ nguồn lực ngân sách, ngân hàng, ODA, vốn vay các tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài. Đây cũng là yêu cầu đối với quá trình lớn lên của doanh nghiệp: Mở rộng quy mô phải đi cùng đa dạng hóa nguồn tài trợ.
Mở rộng nền tảng vốn dài hạn
Theo giới chuyên gia, để giảm phụ thuộc tín dụng, trước hết cần phát huy đúng chức năng huy động vốn chủ sở hữu của thị trường cổ phiếu. Nguồn vốn này tạo nền tảng để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, chia sẻ rủi ro kinh doanh với nhà đầu tư và giảm sức ép trả nợ theo kỳ hạn. Do đó, phát triển thị trường cần được nhìn cả từ khả năng đưa nguồn lực mới vào doanh nghiệp thông qua phát hành cổ phần. Tiến sĩ Jens Lottner, Tổng Giám đốc Techcombank cho rằng, các dự án đầu tư dài hạn và hạ tầng cần nhiều vốn cổ phần hơn, cùng các đợt chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để huy động vốn chủ sở hữu thật sự.
Với thị trường trái phiếu, lợi thế là doanh nghiệp có thể thiết kế kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp hơn với nhu cầu đầu tư, song yêu cầu đặt ra là tạo được sự tương thích giữa kỳ hạn huy động, tiến độ đầu tư và khả năng trả nợ. Phát hành trái phiếu vẫn làm phát sinh nghĩa vụ nợ, hiệu quả chỉ bền vững khi doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích và có dòng tiền thực để thanh toán. Từ thực tế doanh nghiệp, đại diện Sun Group chia sẻ, các ngân hàng hiện xem khoản vay trên 7 năm là rủi ro, trong khi đặc thù các dự án lớn như Bà Nà Hills hay Fansipan đòi hỏi thời gian đầu tư từ 12-16 năm. Để giải quyết bài toán này trong giai đoạn 2026- 2030, Sun Group hướng tới thị trường trái phiếu. Đại diện doanh nghiệp cũng đề xuất cần cơ chế “bơm” lại sức sống cho trái phiếu dài hạn, bảo đảm thanh khoản để nhà đầu tư yên tâm nắm giữ.
Việt Nam cần phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, bảo hiểm và các định chế đầu tư dài hạn. Cùng với đó là nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin, kiểm toán và bảo vệ nhà đầu tư. Dòng vốn dài hạn sẽ lựa chọn những doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, quản trị minh bạch, sử dụng vốn hiệu quả và đủ năng lực tăng trưởng trong một thế giới mà tiền ngày càng đắt đỏ, chọn lọc hơn.
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội (HANOISME)
Trong bài toán vốn trung và dài hạn, ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội (HANOISME) chia sẻ, không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên ngân hàng thương mại. Việt Nam cần phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, bảo hiểm và các định chế đầu tư dài hạn. Cùng với đó là nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin, kiểm toán và bảo vệ nhà đầu tư. Dòng vốn dài hạn sẽ lựa chọn những doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, quản trị minh bạch, sử dụng vốn hiệu quả và đủ năng lực tăng trưởng trong một thế giới mà tiền ngày càng đắt đỏ, chọn lọc hơn.
Như vậy, doanh nghiệp muốn lớn cần nguồn vốn đủ dài để theo đuổi chiến lược và phải nâng chuẩn quản trị để tiếp nhận nguồn lực ấy. Khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư và các định chế tích lũy dài hạn phát triển đồng bộ, nguồn tiền tiết kiệm từ hệ thống ngân hàng mới có thêm con đường đi vào sản xuất. Đó là nền tảng để mở rộng năng lực doanh nghiệp, giảm sức ép lên ngân hàng và nâng chất lượng tăng trưởng.
HỒNG ANH