Dù vậy, những nhịp điều chỉnh của tỷ giá thời gian qua tiếp tục tạo ra những tác động hai chiều rõ rệt. Một mặt, chúng mở ra cơ hội cho các ngành xuất khẩu. Mặt khác, chúng đặt ra bài toán chi phí đè nặng lên khối doanh nghiệp nhập khẩu.
Tác động hai chiều của tỷ giá
Hiện tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại vẫn xoay quanh mốc 26.000 đồng/USD ở chiều bán ra. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 8, chỉ số giá USD giảm 0,38% so tháng trước; giảm 0,36% so cùng kỳ năm 2025. Bình quân tám tháng năm 2026, chỉ số giá USD tăng 1,31% so cùng kỳ năm trước.
Suốt thời gian gần đây, ông Tuấn Anh, Giám đốc doanh nghiệp chuyên về mỹ phẩm nhập khẩu cho biết, rất đau đầu với tỷ giá USD/VND, cho dù mức tăng vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Khi tỷ giá tăng, chi phí nhập hàng tính bằng tiền đồng sẽ đội lên, làm tăng giá vốn và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Doanh nghiệp phải cân nhắc tăng giá sản phẩm hoặc chấp nhận giảm biên lợi nhuận để duy trì sức cạnh tranh.
Theo giới phân tích, những doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực trả nợ một khi tỷ giá tăng. Chưa kể, để giảm chi phí này thì họ tìm cách chuyển bớt thiệt hại sang người tiêu dùng bằng cách tăng giá sản phẩm, dịch vụ, do đó cũng có thể kéo giá hàng hóa lên. Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty May Sài Gòn 3 cho biết, nếu đồng USD mạnh lên thì chi phí nhập sợi, vải, logistic cũng sẽ tăng tương ứng và tác động tiêu cực đến toàn bộ chuỗi cung ứng hàng dệt may, từ nhà sản xuất đến nhà bán lẻ.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đang hưởng lợi nhờ tỷ giá nhích tăng. Điển hình là các doanh nghiệp xuất khẩu. Chẳng hạn, ông lớn ngành cao-su Việt Nam, VRG đang có lãi do chênh lệch tỷ giá lên đến hơn 1.000 tỷ đồng. Hay Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, một đại gia trong ngành tôm xuất khẩu cũng đang có mức lãi từ chênh lệch tỷ giá gần 200 tỷ đồng.
Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, Đại học RMIT Việt Nam cho biết, tỷ giá tiền đồng so với USD rõ ràng vẫn bị ảnh hưởng mạnh bởi chính sách tiền tệ của Mỹ, cũng như các ngân hàng trung ương lớn như châu Âu, Anh và Nhật. Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh lãi suất không chỉ tác động trực tiếp đến chi phí vốn và dòng vốn đầu tư, mà còn làm thay đổi kỳ vọng của thị trường về sức hấp dẫn của đồng USD so với các đồng tiền khác. Bên cạnh đó, động thái điều chỉnh chính sách tiền tệ từ các ngân hàng trung ương lớn như châu Âu, hay Nhật sẽ tạo ra những ảnh hưởng cộng hưởng lên tỷ giá.
“Sự gia tăng của tỷ giá USD/VND có những tác động rõ rệt đến cả doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, tỷ giá cao có thể mang lại lợi ích trước mắt vì doanh thu tính bằng USD sẽ tăng khi quy đổi sang tiền đồng, giúp cải thiện lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu chi phí nguyên vật liệu và sản xuất cũng phải nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ đối mặt áp lực tăng chi phí. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp phải tăng giá bán sản phẩm, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, tỷ giá USD/VND cao sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu, dẫn đến giá thành sản phẩm cao hơn. Điều này có thể khiến doanh nghiệp giảm lượng hàng nhập khẩu hoặc tìm cách chuyển sang nguồn cung ứng trong nước để tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, nếu hàng hóa nhập khẩu là thiết yếu, doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận mức giá cao hơn, qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận”, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh nói.
Quản lý rủi ro chủ động
Ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc toàn quốc Khối Kinh doanh vốn, tiền tệ và thị trường chứng khoán (HSBC Việt Nam) cho biết, một thay đổi tích cực khác của giai đoạn hiện nay là hành vi của doanh nghiệp. Nếu vài năm trước, khi tỷ giá tương đối ổn định và chi phí vốn thấp hơn, không ít doanh nghiệp có xu hướng trì hoãn quyết định phòng ngừa rủi ro hoặc chỉ xử lý khi biến động đã xảy ra. Hiện nay doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã chủ động hơn nhiều.
Với doanh nghiệp nhập khẩu, xu hướng dễ thấy là tăng cường lập kế hoạch dòng tiền ngoại tệ sớm hơn, chia nhỏ thời điểm mua ngoại tệ và quan tâm nhiều hơn đến các công cụ phòng ngừa như giao dịch kỳ hạn. Với doanh nghiệp xuất khẩu, thay vì chờ tỷ giá thuận lợi, nhiều đơn vị bắt đầu ưu tiên bảo vệ biên lợi nhuận và tính chắc chắn của dòng tiền.
Điều đáng chú ý là ngày càng nhiều doanh nghiệp coi phòng ngừa rủi ro không phải là chi phí phát sinh, mà là một phần của chiến lược tài chính. Trong môi trường hiện nay, điều quan trọng không chỉ là vay đồng tiền nào rẻ hơn tại một thời điểm, mà là đồng tiền nào phù hợp hơn với dòng tiền đầu vào, đầu ra và khả năng chịu biến động của doanh nghiệp. Đây là một sự thay đổi tích cực và cũng phản ánh mức độ trưởng thành hơn của thị trường.
Ở góc nhìn vĩ mô, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh khuyến nghị, để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn do biến động tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể triển khai các chương trình hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự biến động này. Việc cho phép doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp hơn trong thời gian ngắn sẽ giúp họ giảm bớt áp lực chi phí.
Đồng thời, NHNN cũng nên tăng cường tuyên truyền, cung cấp thông tin đầy đủ về biến động tỷ giá và các biện pháp hỗ trợ đến cộng đồng doanh nghiệp và người dân, giúp họ có sự chuẩn bị và điều chỉnh phù hợp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cuối cùng, việc triển khai các chương trình bảo hiểm rủi ro tỷ giá sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu tác động tiêu cực từ biến động tỷ giá. Tất cả những biện pháp này không chỉ giúp ổn định tỷ giá mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì sự phát triển kinh tế bền vững.
Theo ông Ngô Anh Tuấn, Giám đốc cao cấp Phát triển giải pháp thanh toán & CASA của Techcombank, doanh nghiệp ứng phó rủi ro tỷ giá nên ưu tiên giao dịch trực tiếp bằng đồng tiền thanh toán để giảm chi phí chuyển đổi trung gian, lập kế hoạch ngoại tệ chủ động kết hợp công cụ phòng vệ nhằm chốt chi phí an toàn bảo vệ biên lợi nhuận thay vì cố gắng đoán đáy tỷ giá, đồng thời tính toán toàn bộ cấu thành chi phí phát sinh cùng thời gian xử lý và tác động dòng tiền. Quản trị tỷ giá không phải là tìm kiếm thời điểm mua rẻ nhất mà là xác định mức chi phí chấp nhận được thông qua việc đánh giá đồng thời tỷ giá, thời điểm thanh toán, dòng tiền và chi phí vốn trong suốt chu kỳ kinh doanh.
anh tuấn, trần minh