Một chiều thu, trong căn nhà trên đường Trường Chinh (Hà Nội), Thượng tướng Phạm Thanh Ngân lật giở những tấm ảnh cũ của ông cùng đồng đội.
Ở tuổi 87, trí nhớ đôi lúc đã ngắt quãng, nhưng khi nhắc đến những năm tháng trên bầu trời, mắt ông sáng lên như mọi chuyện mới diễn ra hôm qua.
Từ năm 1966 đến 1968, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân có hơn 100 lần xuất kích, trực tiếp bắn rơi 8 máy bay Mỹ và chỉ huy, yểm hộ để đồng đội bắn rơi thêm nhiều chiếc khác. Ông được công nhận là một trong 19 phi công đạt danh hiệu Ace - Át chủ bài (Căn cứ theo tiêu chuẩn quân sự quốc tế).

Thượng tướng Phạm Thanh Ngân vui vẻ kể lại những câu chuyện về thời gian tham gia chiến đấu (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Phi công bắn rơi 8 máy bay Mỹ
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân sinh ra tại Lương Phú, Phú Bình (Thái Nguyên). Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, chàng trai 20 tuổi quyết định lên đường nhập ngũ, mong góp sức cống hiến cho dân tộc.
Năm đó, Phạm Thanh Ngân được biên chế về Lữ đoàn Pháo binh 374, Sư đoàn 351, làm nhiệm vụ trinh sát rồi trở thành Tiểu đội trưởng. "Thời điểm ấy tôi chưa từng hình dung có ngày mình trở thành phi công, ngồi trong buồng lái để chiến đấu", Thượng tướng kể lại.
Bước ngoặt đến vào tháng 4/1961, trong một đợt kiểm tra thể lực để tuyển phi công, ông trúng tuyển và được cử tới Trường Dự khóa bay tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng. Tháng 10 cùng năm, ông Ngân được chọn sang Liên Xô học lái MiG-17.
Sau gần 3 năm đào tạo, tháng 10/1964, ông trở về nước, trở thành phi công lái MiG-17 thuộc Trung đoàn Không quân 921. "Tôi đi học nhưng giấu kín gia đình, không một ai biết được cử đi đâu, học cái gì", ông Ngân kể.


Thượng tướng Phạm Thanh Ngân ngày trẻ và bây giờ (Ảnh: Tư liệu - Ngô Nhật Hoàng).
Nhưng con đường trở thành phi công chiến đấu của ông chưa dừng lại ở đó. Năm 1965, khi Mỹ liên tục đánh phá miền Bắc bằng nhiều loại máy bay công nghệ cao, yêu cầu đối với lực lượng Không quân Việt Nam cũng thay đổi.
Ông Ngân một lần nữa được chọn sang Liên Xô học chuyển loại MiG-21, máy bay chiến đấu siêu âm có tốc độ gần 2.000km/h.
“MiG-17 chỉ có pháo, còn MiG-21 là máy bay siêu âm, được trang bị tên lửa. Khi chuyển sang MiG-21, chúng tôi phải học rất nhanh để về nước chiến đấu, có khi bay cả ngày chủ nhật vì muốn nhanh chóng làm chủ máy bay để trở về chiến đấu”, ông kể.
Tháng 6/1966, ông Ngân trở về nước, chính thức bước vào những năm tháng trực tiếp chiến đấu trên bầu trời. Nhớ lại ngày đó, vị Thượng tướng kể, sự chênh lệch về lực lượng và trang bị giữa hai bên khi ấy rất lớn.
Đối thủ chủ yếu của các phi công Việt Nam khi ấy là những chiếc F-4 và F-105 của Mỹ. Theo ông, F-4 có tính năng mạnh, tốc độ cao, mang theo 4 tên lửa và thường được sử dụng trong các nhiệm vụ không chiến. Trong khi đó, MiG-21 của Việt Nam chỉ được trang bị 2 tên lửa. Các máy bay Mỹ thường hoạt động theo đội hình đông, còn phía Việt Nam chủ yếu phải sử dụng lực lượng nhỏ hơn.
“Có khi đội hình của họ đi 12 chiếc, còn mình chỉ có 2 chiếc, thậm chí chỉ một chiếc đi đánh”, ông nói.
Sự chênh lệch về lực lượng và trang bị khiến mỗi lần xuất kích của các phi công Việt Nam đều là một thử thách. Thế nhưng, điều đó không khiến ông và đồng đội lùi bước.
Theo ông Ngân, khi ấy, các phi công chỉ có một thứ rất lớn để bù đắp cho những thiếu thốn về thiết bị là sự quyết tâm chiến đấu. “Mình ít, địch nhiều, nhưng vào trận thì phải đánh, dù khó khăn thế nào cũng phải bảo vệ vùng trời miền Bắc, kể cả hy sinh”, ông nói.

Với chiến thuật đánh nhanh - thọc sâu - rút nhanh, biên đội Phạm Thanh Ngân (trái) và Nguyễn Văn Cốc (phải) sáng 18/11/1967 đã lập chiến công xuất sắc, hạ 2 chiếc F-105 của Mỹ (Ảnh tư liệu).
Theo ông Ngân, do lực lượng mỏng, các phi công Việt Nam không thể bay thẳng vào đối đầu với đội hình đông hơn nhiều lần. Thay vào đó, họ phải tận dụng yếu tố bất ngờ, tìm cách chiếm vị trí có lợi, tiếp cận đối phương đúng góc, đúng cự ly để sử dụng vũ khí.
Để tránh bị phát hiện, phi công hạn chế bật radar, chủ yếu dựa vào kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng phán đoán để tiếp cận mục tiêu. Chỉ khi áp sát địch từ phía sau, radar mới được bật trong thời gian rất ngắn để xác định mục tiêu, ngắm bắn rồi lập tức tắt đi, tránh để đối phương phát hiện và phản công.
“Trên không, mọi thao tác đều phải nhanh, chính xác, không có thời gian để do dự, chậm một tích tắc là mất thời cơ, bị địch phản công”, ông nói.
Trong chiến đấu, ông từng một lần bị đối phương bắn, làm hư hại phần cánh nhưng may mắn đưa được máy bay trở về. Tuy nhiên nhiều đồng đội của ông thì không may mắn như vậy. Ông Ngân nhớ một lần, biên đội 4 chiếc, 3 chiếc vừa cất cánh thì bị phục kích bắn rơi.
“Chiến tranh rất ác liệt, nhưng không thể lùi bước”, ông nói.
Suốt những năm 1966-1968, ông Ngân chủ yếu ở trên bầu trời. Đây cũng là khoảng thời gian ông lập chiến công bắn rơi 8 máy bay Mỹ. Lần đầu tiên ông bắn rơi máy bay đối phương là ngày 14/12/1966. Ở độ cao khoảng 300m, ông hạ một máy bay không người lái.
Sau đó, những cuộc không chiến ngày càng khốc liệt.
Ngày 4/5/1967, trên chiếc MiG-21 mang số hiệu 4324, ông bắn rơi chiếc F-105 “Thần sấm” trên vùng trời Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Gần ba tháng sau, ngày 29/7, ông cùng biên đội Nguyễn Ngọc Độ tham gia trận đánh và bắn rơi một chiếc F-4 biệt danh “Con ma”.
Ngày 16/9/1967, ông tiếp tục bắn rơi một chiếc RF-101 trên vùng trời miền Bắc. Hai tháng sau, ngày 18/11, cũng trên chiếc MiG-21 số hiệu 4324, ông hạ thêm một chiếc F-105 trên vùng trời Phú Thọ. Bên cạnh đó, ông chỉ huy, yểm hộ cho đồng đội bắn rơi thêm nhiều máy bay đối phương.

Chiếc MiG-21 số hiệu 4320 từng được lái bởi Anh hùng Phạm Thanh Ngân, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 1 Thái Nguyên (Ảnh tư liệu).
Tuy nhiên, trong câu chuyện của mình, vị Thượng tướng luôn nhấn mạnh rằng những chiến công ấy không phải thành tích của riêng một người.
Phía sau mỗi chuyến bay là cả quá trình đào tạo, huấn luyện, sự phối hợp của biên đội và lực lượng phòng không; là những cuộc họp bàn chiến thuật, những giờ bay hiệp đồng mà đồng đội cùng nhau tập luyện trước khi bước vào trận đánh thực sự.
Sau những năm trực tiếp chiến đấu trên bầu trời, ông dần chuyển sang công tác chỉ huy, huấn luyện và xây dựng lực lượng. Từ một phi công trực tiếp đối đầu với máy bay địch, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy trong Quân chủng Phòng không - Không quân.
Ông từng giữ cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân. Năm 1998, ông được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến năm 2002, ông nghỉ hưu, trở về cuộc sống đời thường bên gia đình và con cháu.

Thượng tướng Phạm Thanh Ngân kể về những cuộc đối đầu với không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Cuộc sống về hưu của vị tướng tuổi 87
Ở tuổi 87, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân sống bình dị trong căn nhà trên phố Trường Chinh (Hà Nội), bên con dâu và cháu nội. Cách đây ít năm, người vợ và con trai cả của ông qua đời vì bạo bệnh.
Những năm tháng chiến đấu đã lùi xa, sức khỏe của vị tướng không còn như trước. Ông nghe khó hơn, đôi lúc phải hỏi lại người đối diện.
Những trận đánh, mốc thời gian cụ thể cũng không còn được nhớ đầy đủ, nhưng khi nhắc đến đồng đội, ông vẫn có thể gọi đúng tên từng người bay cùng mình.
Trong căn nhà, những bức ảnh kỷ niệm được ông gìn giữ cẩn thận, treo trên tường hoặc đặt trong các tủ kính. Mỗi khi đồng đội cũ ghé thăm hay có người tìm đến xin tư liệu, ông lại lấy ảnh ra xem, kể lại từng câu chuyện.

Ông Ngân (bên trái ngoài cùng) trong bức ảnh Bác Hồ gặp mặt các anh hùng, dũng sĩ của hai miền Nam - Bắc tại vườn hoa Phủ Chủ tịch năm 1968 (Ảnh: Tư liệu).
Nổi bật giữa nhà là bức ảnh ông được gặp, trò chuyện với Bác Hồ để báo cáo thành tích chiến đấu. Vị tướng già kể, ông từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần. Trong một lần gặp, ông được Bác tặng một chiếc đồng hồ. Thời gian đầu ông có đeo, sau đó đã tặng bảo tàng để được giữ gìn cẩn thận hơn.
“Tôi già rồi, đeo thì sợ mất, cất đi thì sợ lúc nhớ lúc quên, nên tặng lại bảo tàng để lưu giữ kỷ vật của Bác”, ông nói.
Những bức ảnh về đồng đội, những người từng bay hỗ trợ ông trong các trận đánh, hình ảnh ông thời trẻ và những khoảnh khắc bên gia đình cũng được lưu giữ cẩn thận tại nhà. Nhìn lại những bức ảnh cũ, ông nhiều lần bật cười. Trong đó, hình ảnh người phi công từng ngồi trong buồng lái MiG-21 hiện lên với gương mặt trẻ trung, khác xa vị tướng tóc bạc tuổi 87.
“Đây là lúc gần 30 tuổi, ngày đó còn đẹp trai”, ông cười nói.

Mỗi lần nhìn hình ảnh thời trẻ, ông Ngân lại nhớ về những năm tháng cùng đồng đội chiến đấu trên bầu trời (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Nếu chiến tranh từng khiến ông sống trong trạng thái xác định từng phút có thể hy sinh, cuộc sống hiện tại gần như đối lập. Không còn những chuyến bay, những buổi huấn luyện hay những cuộc họp kéo dài, nhịp sống của ông Ngân chậm lại theo tuổi tác.
Buổi sáng, ông thường thức dậy khoảng 6h. Việc đi lại hạn chế hơn trước, vị tướng già chủ yếu sinh hoạt trong nhà, đọc báo, cập nhật tin tức và chăm sóc khoảng vườn nhỏ. “Bây giờ già rồi, sức khỏe của tôi không tốt như trước, cuộc sống cũng chỉ quanh quẩn trong nhà, bên con cháu thôi”, ông nói.
Thi thoảng, khi sức khỏe cho phép, ông sang thăm Bảo tàng Phòng không - Không quân ở đối diện nhà. Đây là công trình ông từng chỉ đạo xây dựng khi giữ cương vị Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân, nơi trưng bày nhiều mô hình máy bay, trực thăng, tên lửa từng tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ở tuổi 87, ông chăm cây, tập thể dục mỗi ngày (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).
Trong những câu chuyện về cuộc sống hiện tại, điều ông Ngân nhắc đến nhiều nhất vẫn là con cháu.
Sinh ra và trưởng thành trong thời kỳ đất nước còn chia cắt, trải qua chiến tranh và nhiều năm sống trong điều kiện thiếu thốn, ông nói hạnh phúc lớn nhất hiện nay là được chứng kiến con cháu trưởng thành, được sống trong hòa bình và có một cuộc sống đủ đầy hơn thế hệ trước.
“Xác định là chết mà tôi không chết, lại còn được sống ở thời bình, lập gia đình, sinh con đẻ cái và sống đến giờ là điều may mắn”, ông chia sẻ.
Những năm đầu nghỉ hưu, vị tướng vẫn tham gia một số hoạt động của quân đội, Nhà nước và dành thời gian phụ các con chăm sóc cháu. Nay tuổi đã cao, cuộc sống của ông thu hẹp lại trong những việc giản dị: Đọc báo, chăm cây, trò chuyện với người thân và thỉnh thoảng gặp lại đồng đội.
Niềm vui của ông đôi khi chỉ là một bữa cơm có đông đủ con cháu, một lần cả gia đình tổ chức sinh nhật, cùng chụp những bức ảnh kỷ niệm.


Ông Ngân sống vui vẻ tuổi già bên con cháu (Ảnh: Gia đình cung cấp).
Vào những dịp lễ lớn của quân đội, các cháu cũng đưa ông đến bảo tàng, nơi lưu giữ những kỷ vật gắn với cuộc đời ông. Ở đó, người phi công từng làm chủ bầu trời lại có dịp kể cho thế hệ sau nghe về những năm tháng chiến tranh mà ông đã đi qua.
Trong khu vườn nhỏ, ông vẫn cố gắng đi lại mỗi ngày. Không còn những vòng bay trên bầu trời, không còn tốc độ hàng nghìn km/h, bước chân của người từng dành phần lớn tuổi trẻ cho những chuyến bay chiến đấu giờ chậm rãi hơn.
Trong căn nhà trên đường Trường Chinh, những trận không chiến và những năm tháng chiến tranh dường như đã lùi rất xa. Những bức ảnh cũ vẫn ở đó, những kỷ vật vẫn được gìn giữ, còn người phi công năm nào giờ dành phần đời còn lại cho gia đình, đồng đội và những ký ức của một thời đã qua.