Ông B. ở TPHCM nhiều lần vay tiền của ông C., tổng số tiền gần 3 tỷ đồng. Để bảo đảm khoản vay, ông C. yêu cầu người vay sang tên bất động sản, với thỏa thuận nếu đến hạn không trả được nợ, tài sản sẽ được xử lý để thu hồi tiền.
Tuy nhiên, thay vì sử dụng tài sản đứng tên mình, ông B. lấy bất động sản của anh trai là ông A. để thế chấp. Trước khi nhận tiền, ông B. viết giấy cam kết nếu không trả được nợ, bên cho vay có quyền thanh lý tài sản.
Ông C. sau đó được ông A. sang tên bất động sản. Có giấy cam kết của người vay và tài sản đã đứng tên mình, ông C. tin rằng khoản tiền cho vay đã được bảo đảm.
Rắc rối phát sinh khi ông A. khởi kiện ông C., cho rằng mình bị em trai là ông B. lừa để thực hiện việc sang tên tài sản và bản thân không vay tiền của ông C.
Ảnh minh họa AI.
Theo trình bày của ông C., ông A. cho rằng khoản tiền liên quan đến giao dịch chỉ là 300 triệu đồng ghi trong hợp đồng chuyển nhượng. Trong khi đó, tổng số tiền ông B. vay ông C. lên tới gần 3 tỷ đồng.
Trước nguy cơ không thu hồi được khoản tiền đã cho vay, ông C. tìm đến luật sư Trần Viết Hà (Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk) nhờ tư vấn cách giải quyết.
Theo luật sư Hà, một sai lầm của người cho vay là khi nhận chuyển nhượng tài sản từ ông A., ông C. không lập giấy cam kết có chữ ký của chính chủ tài sản để xác nhận người này biết rõ mục đích của giao dịch.
Luật sư phân tích, nếu ông B. vay tiền và cam kết dùng tài sản của anh trai để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, ông C. cần có văn bản thể hiện sự đồng thuận của ông A. đối với việc sử dụng tài sản này để bảo đảm khoản vay, cũng như thỏa thuận xử lý tài sản khi khoản nợ không được thanh toán.
Trong tình huống hiện tại, theo luật sư, ông C. rơi vào thế "tình ngay lý gian", khó chứng minh. Ông C. trình bày ông A. và ông B. là anh em, đồng thời một phần tiền vay được sử dụng cho ông A. Tuy nhiên, theo luật sư, những thông tin này phải có căn cứ chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa.
Việc ông A. đã sang tên bất động sản cho ông C. không đồng nghĩa tranh chấp đã được giải quyết. Theo phân tích của luật sư, nếu không có hồ sơ thể hiện rõ bản chất giao dịch và sự đồng thuận của chủ tài sản đối với việc bảo đảm khoản vay, ông C. sẽ gặp khó khăn khi bảo vệ quyền lợi của mình.
Rủi ro còn nằm ở khả năng thu hồi tiền từ người trực tiếp vay. Theo luật sư Hà, nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu, ông B. là người có nghĩa vụ hoàn trả tiền. Tuy nhiên, ông B. hiện không có tài sản để xử lý nợ, không đủ điều kiện thi hành án.
"Như vậy, ngay cả khi tranh chấp được giải quyết bằng bản án xác định nghĩa vụ trả tiền, việc thu hồi khoản nợ trên thực tế vẫn có thể gặp nhiều khó khăn. Người cho vay có nguy cơ mất nhiều thời gian, công sức mà chưa chắc lấy lại được số tiền gần 3 tỷ đồng", luật sư cho hay.
Từ vụ việc, luật sư Hà khuyến cáo người dân cần thận trọng khi cho vay tiền, đặc biệt trong trường hợp sử dụng tài sản của người thứ ba để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Nếu tài sản thuộc sở hữu của người khác, các bên cần lập hồ sơ, văn bản cam kết rõ ràng, có chữ ký xác nhận của chủ tài sản biết và đồng ý với mục đích bảo đảm khoản vay cũng như phương án xử lý tài sản khi phát sinh vi phạm nghĩa vụ.
Theo luật sư, pháp luật hiện hành đã cho phép tại văn phòng công chứng có thể ký hợp đồng cho vay có bảo đảm như khi vay ngân hàng. Người dân có thể ra văn phòng công chứng thay vì ký hợp đồng giả cách.
"Người dân không nên sử dụng hợp đồng giả cách để thay thế thỏa thuận bảo đảm khoản vay, bởi cách làm này tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, thậm chí khiến bên cho vay khó thu hồi số tiền đã giao", luật sư khuyến cáo.