Bỏ qua điều hướng
•

Gia tăng tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm

Gia tăng tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sáu tháng đầu năm 2026 ghi nhận tình hình tai nạn lao động  diễn biến phức tạp khi có hơn 3.400 vụ tai nạn lao động và gần 3.500 người bị nạn trên toàn quốc. Các số liệu thống kê về tai nạn lao động đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Phòng ngừa từ gốc để giảm tai nạn lao động Áp dụng 2 mức đóng bảo ...

Hơn 3.400 vụ tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2026

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Nội vụ ghi nhận tình hình tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp.

Thông báo tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026 của Bộ Nội vụ cho biết, 6 tháng qua, cả nước ghi nhận 3.415 vụ, 3.476 người bị nạn; 378 vụ tai nạn lao động chết người, 391 người chết và 747 người bị thương nặng.

So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn lao động tăng 32,93%, số người bị nạn tăng 32,02%, số vụ tai nạn lao động chết người tăng 25,17%, số người chết tăng 22,57% và số người bị thương nặng tăng 13,18%.

Riêng khu vực có quan hệ lao động xảy ra 3.252 vụ tai nạn lao động làm 3.304 người bị nạn, 293 vụ chết người, 303 người chết và 682 người bị thương nặng.

Sáu tháng qua, cả nước ghi nhận 3.415 vụ tai nạn lao động, 3.476 người bị nạn; 378 vụ tai nạn lao động chết người, 391 người chết và 747 người bị thương nặng.

Những địa phương có số người chết do tai nạn lao động nhiều nhất trong 6 tháng đầu năm 2026 bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Tây Ninh, Ninh Bình, Lâm Đồng, Thanh Hóa.

Những địa phương có nhiều người chết do tai nạn lao động trong khu vực có quan hệ lao động là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tây Ninh, Ninh Bình và Lâm Đồng. Đã có 8 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng (làm chết người và bị thương nhiều người) tại các địa phương như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, xảy ra chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng.

Ngoài một số vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đang trong quá trình điều tra, có 10 vụ tai nạn lao động đề nghị khởi tố, 7 vụ đã có quyết định khởi tố của cơ quan Cảnh sát điều tra.

Cũng ở khu vực có quan hệ lao động, tai nạn lao động xảy ra trong 6 tháng đầu năm 2026 đã gây ra những thiệt hại trực tiếp và gián tiếp cho người lao động và doanh nghiệp.

Tổng chi phí liên quan đến tai nạn lao động, bao gồm chi phí tiền thuốc, chi phí mai táng, tiền bồi thường và trợ cấp cho gia đình người lao động tử vong và những người bị thương cùng các chi phí liên quan khác, ước tính hơn 693 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, thiệt hại về tài sản do các vụ tai nạn lao động gây ra ước tính hơn 8 tỷ đồng. Tổng số ngày nghỉ việc do tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2026 là hơn 58.391 ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, giảm năng suất lao động và phát sinh thêm nhiều chi phí gián tiếp cho doanh nghiệp và xã hội.

Những con số trên cho thấy, tai nạn lao động không chỉ thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe của người lao động mà còn tác động tiêu cực đến năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung.

Số vụ tai nạn lao động và số người bị nạn tăng một phần trong bối cảnh phạm vi, số lượng cơ sở và người lao động tham gia báo cáo được mở rộng. Tuy nhiên, việc số vụ tai nạn lao động chết người, số người chết và số người bị thương nặng đồng thời tăng cho thấy nguy cơ xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng vẫn diễn biến phức tạp, hiệu quả kiểm soát nguy cơ, rủi ro tại một bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa bền vững.

Bộ Nội vụ nhận định, điểm rất đáng chú ý là các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng không phân bố hoàn toàn ngẫu nhiên mà tập trung vào một số ngành và nhóm yếu tố chấn thương. Từ số biên bản điều tra mà Bộ Nội vụ đã nhận, khai thác khoáng sản chiếm 13,33% số vụ tai nạn lao động chết người, sản xuất vật liệu xây dựng 13,33%, xây dựng 6,7%; các yếu tố chấn thương nổi bật gồm ngã cao 20%, vật rơi, đổ, sập 16,67%, máy, thiết bị cán-kẹp-cuốn 10% và điện giật 6,7%.

Bên cạnh đó, cũng có chuyển biến tích cực là độ bao phủ của hệ thống báo cáo tai nạn lao động được cải thiện rõ rệt. Trong 6 tháng đầu năm 2026, 34/34 địa phương đã thực hiện việc báo cáo tình hình tai nạn lao động khu vực có quan hệ lao động theo quy định tại Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ.

Số cơ sở tham gia báo cáo tăng đáng kể, từ 57.852 cơ sở báo cáo 6 tháng đầu năm 2025 lên 119.790 cơ sở 6 tháng đầu năm 2026 (tương ứng 107,06%). Đồng thời, số lao động tham gia báo cáo tăng thêm 30,74% so với 6 tháng đầu năm 2025.

Công tác khai báo và điều tra tai nạn lao động tại các địa phương đã được triển khai. Phần lớn các vụ tai nạn lao động, đặc biệt là các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng và chết người, đã được các địa phương tổ chức điều tra, xác định nguyên nhân và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy trình quy định.

Đối với một số vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng, hồ sơ đã được chuyển cơ quan điều tra. Báo cáo ghi nhận 10 vụ được đề nghị khởi tố và 7 vụ đã có quyết định khởi tố. Điều này cho thấy cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý lao động và cơ quan công an trong xử lý một số vụ việc nghiêm trọng đã được thực hiện.

Báo cáo đã bước đầu mở rộng nguồn dữ liệu ngoài hệ thống báo cáo của doanh nghiệp, đặc biệt là dữ liệu của ngành y tế. Số liệu của 18/34 địa phương cho thấy, có tới 7.786 người bị tai nạn lao động đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trong đó có 2.442 người sơ cứu, cấp cứu không phải nhập viện và 5.344 người điều trị lần đầu).

Khắc phục những tồn tại, hạn chế

Bộ Nội vụ cũng nêu lên một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới.

Thứ nhất, hiệu quả phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ tại nơi làm việc chưa tương xứng với yêu cầu. Việc đồng thời tăng số vụ chết người và số người chết cho thấy tại một bộ phận doanh nghiệp, công tác đánh giá nguy cơ, xây dựng biện pháp làm việc an toàn, huấn luyện, kiểm soát máy thiết bị và giám sát tuân thủ chưa thực chất.

Các biên bản điều tra của Bộ Nội vụ nhận được ghi nhận các vấn đề như điều kiện lao động không bảo đảm, không tổ chức huấn luyện và thiếu hoặc không bảo đảm thiết bị an toàn.

Thứ hai, khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động tiếp tục là khoảng trống lớn trong quản lý và phòng ngừa. Chỉ 163 vụ được thống kê nhưng có tới 85 vụ chết người, 88 người chết; số người bị thương nặng tăng 96,97% so với cùng kỳ. Đặc biệt, chỉ 19 địa phương báo cáo có tai nạn lao động, 14 địa phương báo cáo không có vụ nào và 1 địa phương không báo cáo.

Thứ ba, chất lượng dữ liệu tai nạn lao động vẫn là điểm nghẽn của quản lý nhà nước. Chỉ khoảng 23,84% doanh nghiệp thực hiện báo cáo; hồ sơ điều tra tai nạn lao động chết người gửi về Bộ còn rất thấp; tiến độ và chất lượng báo cáo giữa địa phương không đồng đều.

Đáng chú ý hơn, chỉ riêng 18/34 địa phương, ngành y tế đã ghi nhận 7.786 trường hợp đến khám, điều trị do tai nạn lao động, trong khi hệ thống báo cáo tai nạn lao động toàn quốc ghi nhận 3.476 người bị nạn. Độ chênh rất lớn này là tín hiệu rõ ràng cần thiết lập cơ chế đối chiếu dữ liệu giữa nội vụ-y tế và các nguồn liên quan.

Thứ tư, năng lực quản lý ở cơ sở chưa đồng đều trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp. Nghị định 128/2025/NĐ-CP và Nghị định 129/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/7/2025 đã thiết lập cơ chế phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền mới trong lĩnh vực Nội vụ.

Riêng về tai nạn lao động, Nghị định số 129/2025/NĐ-CP quy định trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp xã và Công an cấp xã đối với một số trường hợp khai báo, ghi nhận, thống kê và điều tra tai nạn lao động. Việc giao thêm nhiệm vụ đòi hỏi phải đồng thời bảo đảm hướng dẫn nghiệp vụ, nhân lực và công cụ quản lý.

Thứ năm, dữ liệu điều tra chưa được khai thác đầy đủ thành dữ liệu phòng ngừa.

Mục tiêu của điều tra không chỉ là xác định trách nhiệm sau tai nạn mà phải trả lời được: nguy cơ nào đang gây chết người nhiều nhất, ngành nào cần kiểm soát trước, biện pháp nào thường xuyên thất bại và địa bàn nào cần ưu tiên kiểm tra. Khi số hồ sơ điều tra chuyển về Trung ương còn thấp, khả năng phân tích và cảnh báo ở cấp quốc gia tất yếu bị hạn chế.

Lý giải về nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại trên, Bộ Nội vụ cho rằng, quy mô hoạt động sản xuất, xây dựng, đầu tư hạ tầng và sử dụng lao động tiếp tục lớn, làm gia tăng mức độ phơi nhiễm với các công việc nguy cơ cao; cơ cấu lao động đa dạng, khu vực không có quan hệ lao động phân tán và khó tiếp cận; công nghệ, máy thiết bị và phương thức tổ chức lao động thay đổi nhanh; đồng thời quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi đầu mối, thẩm quyền và yêu cầu năng lực thực thi ở cơ sở.

Còn nguyên nhân chủ quan trước hết thuộc về công tác quản trị an toàn của người sử dụng lao động. Cụ thể như: Việc nhận diện, đánh giá nguy cơ tại một số cơ sở chưa đầy đủ; biện pháp kỹ thuật, quy trình làm việc, huấn luyện, giám sát và phương tiện bảo vệ chưa đáp ứng yêu cầu; còn để tồn tại những nguy cơ có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng.

Về phía người lao động, qua các hồ sơ điều tra Bộ đã nhận, còn tình trạng không tuân thủ quy trình, biện pháp làm việc an toàn hoặc không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.

Về quản lý nhà nước, hạn chế chủ yếu là chất lượng khai báo, thống kê, điều tra và báo cáo chưa đồng đều; dữ liệu phân tán; năng lực thực hiện nhiệm vụ tại một số địa phương, nhất là cấp cơ sở, còn hạn chế; Công tác thanh tra, kiểm tra chưa đủ mạnh: Thanh tra an toàn, vệ sinh lao động đã được chuyển sang cơ chế mới là kiểm tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động, việc triển khai ban đầu còn nhiều lúng túng, đặc biệt sau sắp xếp tổ chức, bộ máy, lực lượng thực hiện nhiệm vụ này vừa thiếu, vừa kiêm nhiệm và đặc biệt là phần lớn chưa có chuyên môn về an toàn, vệ sinh lao động nên công tác kiểm tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động vẫn còn hạn chế; Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế: Đặc biệt đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, công tác tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động chưa được triển khai đồng bộ.

Để giảm thiểu tai nạn lao động trong 6 tháng cuối năm 2026, theo Bộ Nội vụ, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, các tổ chức và doanh nghiệp.

Ưu tiên cần tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chủ động phòng ngừa và hạn chế tai nạn lao động trong thời gian tới, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động.

Hiện nay, Bộ Nội vụ đang hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động nhằm kịp thời xử lý những vấn đề thực sự cần thiết, cấp bách phát sinh từ việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; thực hiện các yêu cầu về phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh; đồng thời xử lý các nội dung có liên quan trực tiếp để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Phạm vi sửa đổi, bổ sung của dự án Luật tập trung vào 3 nhóm nội dung cấp bách sau đây.

Các quy định chịu tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo Nghị quyết số 190/2025/QH15.

Các quy định về thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.

Các quy định có liên quan trực tiếp để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Dự thảo Luật gồm 2 điều; sửa đổi, bổ sung liên quan đến 35/93 điều của Luật hiện hành, trong đó có 18 điều chỉ thay đổi tên Bộ.

Dự án Luật sẽ được trình lên Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua và dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

Người lao động & việc làm

Gia tăng tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm

Bình đẳng giới vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của kinh tế chăm sóc

Ghi nhận nhiều kết quả tích cực của hệ thống bảo hiểm xã hội

NGÂN ANH
Tình hình an toàn lao động trong 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận diễn biến phức tạp khi cả nước xảy ra 3.415 vụ tai nạn làm 3.476 người thương vong. Đáng chú ý, số vụ tai nạn chết người tăng 25,17% và số ca tử vong tăng 22,57% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng trên diện rộng. Phần lớn rủi ro tập trung ở khu vực có quan hệ lao động với 3.252 vụ và 303 trường hợp thiệt mạng, chủ yếu tại các trung tâm kinh tế như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh và Đồng Nai. Lĩnh vực xây dựng tiếp tục là điểm nóng khi xảy ra 8 vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng, dẫn đến 10 vụ việc bị đề nghị khởi tố và 7 vụ đã chính thức khởi tố hình sự. Bên cạnh tổn thất nhân mạng, các sự cố lao động đã gây thiệt hại kinh tế trực tiếp hơn 693 tỷ đồng chi phí bồi thường y tế cùng hơn 8 tỷ đồng tài sản hư hỏng. Hơn 58.391 ngày công bị đình trệ không chỉ làm sụt giảm năng suất sản xuất mà còn gia tăng áp lực chi phí gián tiếp lên doanh nghiệp và xã hội.
amung