Thu nhập 50 triệu/tháng bị chấm dứt hợp đồng lao động sau 3 tháng
Ông Nguyễn Hoàng P. (TPHCM) ký hợp đồng lao động có thời hạn 1 năm với Công ty T., bắt đầu từ ngày 12/6/2022, đảm nhận vị trí giám đốc kinh doanh.
Theo hợp đồng, ông P. có mức lương cơ bản 8 triệu đồng/tháng, các khoản hỗ trợ tiền ăn, điện thoại, xăng xe tổng cộng 4 triệu đồng/tháng và khoản thưởng KPI tối đa hoặc theo điều kiện hoàn thành công việc là 38 triệu đồng. Tổng thu nhập theo thỏa thuận có thể đạt 50 triệu đồng/tháng.
Ông P. cho biết trong quá trình làm việc, ông hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, ngày 27/9/2022, ông nhận được quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty T. với lý do không hoàn thành công việc.
Không đồng ý với quyết định này, ông P. cho rằng doanh nghiệp đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, người sử dụng lao động chỉ có quyền chấm dứt hợp đồng nếu người lao động có kết quả KPI dưới 5 điểm trong 3 tháng liên tục hoặc 6 tháng cộng lại trong năm.
Trong khi đó, ông P. cho biết doanh nghiệp chỉ đánh giá ông không hoàn thành KPI trong tháng 8/2022, còn tháng 6 và 7/2022 ông đều hoàn thành nhiệm vụ và nhận đủ thu nhập theo thỏa thuận.
Vì vậy, ông P. khởi kiện, yêu cầu Công ty T. thanh toán hơn 38,9 triệu đồng tiền lương tháng 8/2022 còn thiếu và bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Tổng số tiền khởi kiện là hơn 613,9 triệu đồng, gồm tiền lương trong 8 tháng 15 ngày không được làm việc, khoản bồi thường tương đương hai tháng lương và tiền bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước.
Ngoài ra, ông yêu cầu doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ ngày 27/9/2022 đến ngày 12/6/2023. Ông cũng xác định không có nhu cầu quay trở lại làm việc.
Công ty T. không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện. Doanh nghiệp cho rằng, ông P. đã tự ý nghỉ việc từ ngày 1/9/2022, không thực hiện nghĩa vụ báo trước nên yêu cầu ông bồi thường hơn 13,2 triệu đồng.
Đối với tiền lương tháng 8/2022, doanh nghiệp cho biết đã thanh toán đủ tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp sau khi khấu trừ bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân. Do ông P. không hoàn thành KPI nên không được nhận khoản thưởng 38 triệu đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND Khu vực 2, TPHCM xác định Công ty T. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông P.
Tòa buộc công ty phải bồi thường ông P. tiền lương trong thời gian không được làm việc là 68 triệu đồng, 2 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là 16 triệu đồng và một khoản tiền tương ứng với tiền lương những ngày không báo trước là 923.000 đồng.
Tuy nhiên, tòa không chấp nhận yêu cầu trả thêm hơn 38,9 triệu đồng tiền lương tháng 8/2022, đồng thời bác yêu cầu phản tố của doanh nghiệp về khoản bồi thường hơn 13,2 triệu đồng.
Tòa xác định mức bồi thường theo lương cơ bản 8 triệu đồng
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 14/4/2026, ông P. kháng cáo, đề nghị tòa chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông giữ nguyên nội dung kháng cáo. Công ty T. vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
HĐXX nhận định, theo hợp đồng lao động, doanh nghiệp chỉ có cơ sở đơn phương chấm dứt hợp đồng khi người lao động không hoàn thành công việc theo các điều kiện đã thỏa thuận. Trong hai tháng 6 và 7/2022, ông P. đều hoàn thành nhiệm vụ và được trả đủ thu nhập, bao gồm khoản thưởng KPI 38 triệu đồng.
Do đó, việc Công ty T. căn cứ vào kết quả đánh giá không hoàn thành công việc trong riêng tháng 8/2022 để chấm dứt hợp đồng là trái với thỏa thuận giữa hai bên.
Ngoài ra, ngày 30/8/2022, doanh nghiệp gửi email thông báo kết thúc công việc với ông P. vào ngày 27/9/2022, nhưng đến ngày 26/9/2022 mới ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng. Theo HĐXX, doanh nghiệp đã vi phạm thời hạn báo trước ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng.
Về tiền lương tháng 8/2022, tòa xác định ông P. được trả lương cơ bản 8 triệu đồng và các khoản thu nhập không đóng bảo hiểm xã hội là 4 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân, số tiền ông thực nhận là 11,072 triệu đồng. Doanh nghiệp đã thanh toán đủ khoản này nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu đòi thêm hơn 38,9 triệu đồng.
Đáng chú ý, khi xem xét mức bồi thường, tòa xác định các khoản hỗ trợ tiền ăn, điện thoại, xăng xe gắn với nhu cầu sinh hoạt, đi lại trong thời gian người lao động trực tiếp làm việc. Khoản thưởng hoàn thành công việc cũng phụ thuộc vào kết quả thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, mức lương làm căn cứ bồi thường được xác định là 8 triệu đồng/tháng, không phải tổng thu nhập 50 triệu đồng theo hợp đồng.
Theo đó, Công ty T. phải bồi thường cho ông P. tổng cộng hơn 84,9 triệu đồng, gồm 68 triệu đồng tiền lương trong thời gian không được làm việc từ ngày 27/9/2022 đến ngày 12/6/2023; 16 triệu đồng tiền bồi thường tương đương hai tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và 923.000 đồng do vi phạm thời hạn báo trước.
Doanh nghiệp còn có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ông P. trong khoảng thời gian từ 27/9/2022 đến 12/6/2023 theo mức lương 8 triệu đồng/tháng.
Đối với yêu cầu phản tố của Công ty T., HĐXX cho rằng doanh nghiệp đã thông báo chấm dứt hợp đồng với ông P. từ ngày 30/8/2022 và yêu cầu bàn giao công việc. Ngày 7/9/2022, ông P. đã bàn giao công cụ, dụng cụ cho doanh nghiệp. Công ty cũng thừa nhận không lập biên bản vi phạm đối với ông.
Vì vậy, tòa không có cơ sở xác định ông P. đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và bác yêu cầu buộc ông bồi thường hơn 13,2 triệu đồng.
TAND TPHCM không chấp nhận kháng cáo của ông P., giữ nguyên bản án sơ thẩm. Theo phán quyết, số tiền Công ty T. phải trả cho ông là hơn 84,9 triệu đồng, thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(Bài viết dựa trên Bản án số 114/2026/LĐ-PT ngày 18/6/2026 của TAND TPHCM).