Bỏ qua điều hướng
•

Giáo dục bắt buộc: Những ai có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện?

Giáo dục bắt buộc: Những ai có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Từ hôm nay 1.11, Nghị định 353/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, quy định cụ thể về giáo dục bắt buộc đối với cấp tiểu học và THCS. Đây là bước triển khai quan trọng nhằm bảo đảm mọi công dân trong độ tuổi quy định được học tập và hoàn thành trình độ học vấn tối thiểu.

Trách nhiệm bảo đảm để mọi trẻ em đều có thể đến trường

Điều đáng quan tâm nhất của chính sách giáo dục bắt buộc không chỉ nằm ở việc trẻ em phải đến trường, mà còn ở trách nhiệm bảo đảm để mọi trẻ em đều có thể đến trường.

Theo điều 5 luật Giáo dục năm 2019, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 giáo dục bắt buộc là giáo dục mà mọi công dân trong độ tuổi quy định bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện. Đặc biệt, khoản 2 điều 14 quy định nguyên văn: "Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện giáo dục bắt buộc trong cả nước; quyết định kế hoạch, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục".

Giáo dục bắt buộc: Những ai có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện? - Ảnh 1.

Nghị định số 353/2026/NĐ-CP quy định về giáo dục bắt buộc đối với tiểu học và THCS

ảnh: Nhật Thịnh

Như vậy pháp luật không chỉ xác lập nghĩa vụ học tập của công dân và trách nhiệm tạo điều kiện của gia đình, người giám hộ, mà còn đặt ra trách nhiệm chủ động của Nhà nước trong việc tổ chức và bảo đảm các điều kiện thực hiện giáo dục bắt buộc. Đây là điểm cần được nhìn nhận đầy đủ khi triển khai Nghị định 353/2026/NĐ-CP. Một đứa trẻ ở thành phố, có trường học gần nhà, có cha mẹ đủ điều kiện đưa đón và trang trải sinh hoạt sẽ dễ dàng thực hiện nghĩa vụ học tập hơn một đứa trẻ ở vùng núi phải vượt quãng đường xa để đến trường. Một học sinh thuộc gia đình khá giả có thể tiếp tục học tập ngay cả khi phát sinh nhiều khoản chi phí. Nhưng đối với gia đình nghèo, chỉ riêng tiền đi lại, ăn uống, sách vở và những chi phí cần thiết khác cũng có thể trở thành gánh nặng.

Đối với trẻ khuyết tật, trở ngại đôi khi không nằm ở hoàn cảnh kinh tế mà ở khả năng tiếp cận trường lớp, phương tiện hỗ trợ học tập hoặc điều kiện giáo dục phù hợp với đặc điểm của từng em. Nếu chỉ yêu cầu phụ huynh phải đưa con đến trường mà không xem xét những khác biệt này thì nghĩa vụ pháp lý tuy được áp dụng như nhau nhưng khả năng thực hiện lại không bình đẳng.

Bên cạnh miễn học phí, cần các chính sách hỗ trợ khác

Chính sách miễn học phí đang được thực hiện theo Nghị định 238/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 66/2026/NĐ-CP, là một bước tiến quan trọng. Học sinh phổ thông tại các cơ sở giáo dục công lập được miễn học phí, còn học sinh tại cơ sở dân lập, tư thục được hỗ trợ học phí theo quy định. 

Tuy nhiên miễn học phí không đồng nghĩa với việc mọi trở ngại kinh tế đối với quyền học tập đã được giải quyết. Đối với một gia đình nghèo, khoản tiền học phí được miễn có thể rất có ý nghĩa, nhưng chưa chắc đủ để bảo đảm đứa trẻ có thể duy trì việc học nếu còn phải đối mặt với khó khăn về đi lại, sinh hoạt hoặc những nhu cầu thiết yếu khác. Do đó bên cạnh chính sách học phí, cần tiếp tục đánh giá mức độ đáp ứng thực tế của các chính sách hỗ trợ chi phí học tập, điều kiện bán trú, nội trú, phương tiện đến trường và những hình thức trợ giúp phù hợp với từng nhóm học sinh.

Một vấn đề khác cũng rất đáng xem xét ngay trong tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc của Nghị định 353/2026/NĐ-CP. Theo điều 15 và điều 19, ở mức độ hoàn thành, tỷ lệ trẻ em khuyết tật trong độ tuổi tiểu học và có khả năng học tập được tiếp cận giáo dục phải đạt ít nhất 60%. Đối với người khuyết tật trong độ tuổi THCS và có khả năng học tập, mức tối thiểu cũng là 60%. Điều đó có nghĩa là một địa phương có thể đáp ứng tiêu chí này để được xét công nhận đạt chuẩn ở mức độ hoàn thành, dù vẫn còn một bộ phận đáng kể trẻ khuyết tật có khả năng học tập chưa được tiếp cận giáo dục.

Giáo dục bắt buộc: Những ai có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện? - Ảnh 2.

Phụ huynh TP.HCM đưa con đến trường trong ngày tựu trường năm học 2026-2027

ảnh: Nhật Thịnh

Cần nhìn nhận công bằng rằng đây là ngưỡng đánh giá mức độ hoàn thành, không phải quy định cho phép địa phương bỏ mặc những trẻ em còn lại. Việc thiết lập các mức chuẩn phù hợp với điều kiện thực tế có thể cần thiết trong quản lý và tổ chức thực hiện chính sách. Nhưng chính từ đây phát sinh một câu hỏi về trách nhiệm: Nếu một địa phương đã được công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc, nhưng vẫn còn trẻ khuyết tật có khả năng học tập chưa thể đến trường, thì trách nhiệm bảo đảm quyền học tập của những trẻ em ấy sẽ được tiếp tục thực hiện như thế nào?

Một chỉ tiêu thống kê có thể được sử dụng để đánh giá kết quả quản lý nhà nước nhưng không thể trở thành giới hạn đối với quyền học tập của từng công dân. Danh hiệu đạt chuẩn thuộc về địa phương, còn quyền được học thuộc về mỗi đứa trẻ. Hai vấn đề này có liên quan nhưng không thể đồng nhất.

Không chỉ là nghĩa vụ của phụ huynh

Về phương diện tổ chức thực hiện, Nghị định 353/2026/NĐ-CP đã phân định trách nhiệm khá cụ thể. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nguồn lực, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đầu tư nâng cấp trường học. UBND cấp xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, quản lý đối tượng, phối hợp huy động người học, duy trì sĩ số và hạn chế bỏ học.

Vì vậy vấn đề không phải pháp luật chưa quy định trách nhiệm của chính quyền, mà là những trách nhiệm ấy phải được chuyển hóa thành kết quả có thể kiểm chứng. Khi một học sinh bỏ học, điều cần làm không chỉ là thống kê số lượng hoặc vận động phụ huynh cho con trở lại trường mà chính quyền và nhà trường cần xác định nguyên nhân thực sự.

Nếu học sinh bỏ học vì gia đình không có khả năng trang trải chi phí cần thiết, phải xem xét chính sách hỗ trợ phù hợp. Nếu nguyên nhân là trường học quá xa, cần nghiên cứu giải pháp về mạng lưới trường lớp, phương tiện đi lại hoặc điều kiện nội trú, bán trú. Nếu học sinh khuyết tật không thể tiếp cận chương trình học, phải xem xét khả năng tổ chức hình thức giáo dục phù hợp.

Giáo dục bắt buộc: Những ai có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện? - Ảnh 4.

Niềm vui đến trường

ảnh: Nhật Thịnh

Đương nhiên, trách nhiệm của Nhà nước không có nghĩa là phụ huynh được miễn trừ nghĩa vụ. Những trường hợp gia đình cố tình cản trở việc học tập của trẻ em vẫn cần được xem xét, xử lý theo quy định pháp luật khi có đủ căn cứ. Nhưng phải phân biệt rõ giữa trường hợp phụ huynh không thực hiện trách nhiệm dù có điều kiện và trường hợp phụ huynh thực sự không có khả năng khắc phục những trở ngại khách quan. Không thể sử dụng cùng một cách tiếp cận đối với hai hoàn cảnh có bản chất khác nhau.

Xét về triết lý pháp luật, giáo dục bắt buộc không đơn thuần là công cụ yêu cầu công dân thực hiện một hành vi nhất định. Đây còn là thiết chế để Nhà nước bảo đảm một trình độ học vấn tối thiểu cho mọi người, qua đó tạo nền tảng cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển trong tương lai. Nếu chỉ nhấn mạnh tính bắt buộc mà xem nhẹ điều kiện thực hiện thì chính sách rất dễ trở thành sự áp đặt nghĩa vụ lên những người vốn đã chịu nhiều bất lợi. Ngược lại, khi Nhà nước chủ động tháo gỡ những rào cản về kinh tế, địa lý và khả năng tiếp cận giáo dục, tính bắt buộc mới thực sự gắn với mục tiêu bảo vệ quyền con người và thúc đẩy công bằng xã hội.

Bởi vậy thước đo thành công của giáo dục bắt buộc không nên chỉ là tỷ lệ hoàn thành hay số lượng địa phương được công nhận đạt chuẩn. Quan trọng hơn là phải nhận diện được những trẻ em chưa thể tiếp cận giáo dục, lý do các em chưa thể đến trường và trách nhiệm của từng cơ quan trong việc khắc phục những trở ngại đó.

Nếu giáo dục bắt buộc là nghĩa vụ mà pháp luật đặt ra đối với công dân, thì bảo đảm điều kiện thực hiện nghĩa vụ ấy cũng phải là trách nhiệm được thực thi nghiêm túc của Nhà nước.

Từ ngày 1.11, Nghị định 353/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước chuyển trọng tâm từ việc bắt buộc trẻ em đến trường sang trách nhiệm kiến tạo điều kiện tiếp cận giáo dục của Nhà nước. Căn cứ Luật Giáo dục sửa đổi năm 2025, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, quyết định kế hoạch và bảo đảm các nguồn lực thực hiện giáo dục bắt buộc đối với cấp tiểu học và THCS trên toàn quốc. Trọng tâm pháp lý này khẳng định nghĩa vụ học tập chỉ có thể được hiện thực hóa khi cơ quan công quyền chủ động gỡ bỏ các rào cản mang tính hệ thống. Khoảng cách vùng miền và hoàn cảnh xã hội đang đặt ra thách thức lớn đối với tính bình đẳng của chính sách. Trong khi học sinh đô thị dễ dàng tiếp cận trường lớp, trẻ em vùng cao, học sinh nghèo hay trẻ khuyết tật vẫn đối mặt với muôn vàn khó khăn về giao thông, chi phí sinh hoạt và hạ tầng học tập đặc thù. Nếu chỉ áp dụng nghĩa vụ pháp lý một cách đồng loạt mà thiếu đi các giải pháp tương ứng với từng nhóm đối tượng, cơ hội học tập thực chất sẽ khó được bảo đảm đồng đều giữa các tầng lớp dân cư. Dù chính sách miễn học phí theo Nghị định 238/2025/NĐ-CP và Nghị định 66/2026/NĐ-CP đã giảm bớt gánh nặng tài chính, việc duy trì học tập lâu dài vẫn đòi hỏi sự can thiệp toàn diện hơn từ ngân sách. Thực tế cho thấy các khoản chi về bán trú, nội trú, phương tiện đi lại và trang thiết bị chuyên biệt mới là rào cản chi phối khả năng duy trì việc học của học sinh yếu thế. Do đó, việc triển khai Nghị định 353/2026/NĐ-CP đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách an sinh và tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn giáo dục nhằm bảo đảm không một trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.
amung