Bỏ qua điều hướng
•

Giáo dục nghề nghiệp và năng suất của nền kinh tế

Giáo dục nghề nghiệp và năng suất của nền kinh tế
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có các quy định mới về giáo dục nghề nghiệp. Kế hoạch sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đủ 18 tuổi, đang học lớp 10 tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường ...

Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT gắn đào tạo, thực hành và đánh giá với năng lực thực hiện công việc, môi trường nghề nghiệp; Thông tư số 87/2026/TT-BGDĐT đặt ra khung bồi dưỡng năng lực thực hành nghề cho người dạy, từ kỹ năng chuyên môn, xử lý tình huống đến công nghệ mới, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT tạo thêm cơ sở cho sự gắn kết này khi mở rộng hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp từ xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình đến công nghệ, thiết bị, thực hành và đánh giá...

Xu hướng chuyển từ coi trọng bằng cấp sang đề cao kỹ năng nghề, năng lực thực hành và khả năng thích ứng đang đặt ra thước đo mới đối với giáo dục nghề nghiệp. Qua quá trình huấn luyện thí sinh tham dự Kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới lần thứ 48 (WorldSkills 2026), khoảng cách giữa thời lượng thực hành và năng lực giải quyết vấn đề của người học dần bộc lộ. Thực tế cho thấy, thời lượng thực hành chưa đủ để phản ánh chất lượng đào tạo nếu người học chưa được rèn luyện khả năng tự phân tích, lựa chọn phương án và xử lý các tình huống thực tiễn.

Khi thước đo chuyển từ “đã học gì” sang “làm được gì”, chất lượng đào tạo cũng cần được nhìn lại từ chính những nhiệm vụ người học có thể thực hiện. Một hướng chuyển đáng chú ý trong lĩnh vực đào tạo nghề: Từ coi trọng bằng cấp sang coi trọng kỹ năng nghề, năng lực thực hành, khả năng thích ứng và hiệu quả công việc. Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh: Việc hợp tác với doanh nghiệp để xác định chuẩn đầu ra và yêu cầu của vị trí việc làm; tuyển dụng theo năng lực là nhìn vào người lao động làm được việc gì chứ không hẳn có bằng cấp gì.

WorldSkills 2026 diễn ra từ ngày 16 đến 27/9 tại Thượng Hải (Trung Quốc) đã cho thấy một lát cắt khá rõ. Đây là kỳ thi có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 1.400 thí sinh đến từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ tranh tài ở 64 nghề. Đoàn Việt Nam có 12 thí sinh tham dự 11 nghề, trong đó ba thí sinh được trao Huy chương Kỹ năng nghề xuất sắc.

Lưu Nhật Hào và Nguyễn Nhật An, sinh viên Trường cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng tham dự phần thi Cơ điện tử, trong đó Hào phụ trách lập trình, An lắp ráp. Cách phối hợp đã luyện suốt nhiều tháng bắt đầu xáo trộn dưới sức ép thời gian. Cả hai mở nhiều túi thiết bị cùng lúc; đến khi cần một chi tiết mà không tìm thấy, họ phải quay lại kiểm tra, công việc đang làm bị ngắt quãng. “Càng không kịp càng hoảng, càng hoảng lại càng cuống”, Hào kể.

Theo ông Phan Huy Bằng, giảng viên Khoa Điện-Điện tử, Trường cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng, “Khác biệt quan trọng nhất là khả năng xử lý những vấn đề chưa từng gặp. Sinh viên thường được thực hành theo quy trình và bài tập có hướng dẫn, trong khi thí sinh WorldSkills phải chủ động phân tích yêu cầu, xây dựng giải pháp, tối ưu chương trình và xử lý các tình huống phát sinh”.

Hào kể, khi huấn luyện WorldSkills, các em tiếp xúc thiết bị từ sáng đến chiều, liên tục trong nhiều tháng. Ở lớp học thông thường, một nội dung có thể được học theo một ca sáng hoặc chiều trong khoảng hai tuần để nắm nguyên lý cơ bản. Khoảng cách vì thế còn nằm ở thời gian mỗi người được thao tác và họ phải tự giải quyết vấn đề trong những giờ thực hành ấy.

Theo ông Bằng, nếu một nhiệm vụ WorldSkills đã giảm độ khó được giao cho nhóm sinh viên khá, giỏi, khó khăn đầu tiên có thể chưa nằm ở lắp ráp hay lập trình PLC, mà ở đọc yêu cầu kỹ thuật, phân tích quy trình công nghệ và tự xây dựng phương án. Bài học thông thường có sơ đồ, quy trình hoặc hướng dẫn của giảng viên; nhiệm vụ ở trình độ cao buộc người thực hiện tự xác định trình tự hoạt động của hệ thống, thiết kế lưu đồ điều khiển, chia việc rồi mới lắp ráp, lập trình và vận hành.

Phó Cục trưởng Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Lê Thị Hằng, Trưởng đoàn Việt Nam tại kỳ thi cho rằng: “Khoảng cách lớn nhất không nằm riêng ở thiết bị, chương trình hay đội ngũ, mà nằm ở cách chúng ta tổ chức quá trình đào tạo để giúp kiến thức, kỹ năng của người học trở thành năng lực nghề nghiệp thực tế”.

Theo bà Hằng, bài thực hành có thể được thiết kế quanh nhiệm vụ nghề thực tế, với yêu cầu cụ thể về độ chính xác, thời gian, chất lượng và tác phong công nghiệp. Việc đánh giá cần đi vào khả năng thực hiện công việc: người học làm được gì, làm đúng đến đâu, sản phẩm có đạt tiêu chuẩn hay không. WorldSkills, theo cách đó, là nguồn tham chiếu về chuẩn năng lực hơn là mô hình để sao chép. Một nhiệm vụ nghề có thể được tách thành từng công đoạn, từ đọc yêu cầu, thực hiện cho đến đo kiểm sản phẩm; mỗi công đoạn trở thành nhiệm vụ thực hành và tiêu chí đánh giá trong chương trình.

Với ngành Cơ điện tử, thí sinh Lưu Nhật Hào cho rằng, các tình huống xử lý lỗi hoàn toàn có thể đưa vào lớp học. Cảm biến, khí nén hay lập trình đều dựa trên những nguyên lý nền tảng; vấn đề là người học có được đặt vào tình huống phải tự tìm lỗi và sửa lỗi hay không. Theo ông Bằng, các yêu cầu về an toàn, tổ chức nơi làm việc, quy trình công nghệ cũng có thể áp dụng rộng rãi. Khó hơn là bảo đảm đủ thời gian tiếp xúc thiết bị để kỹ năng tiến dần đến mức thành thạo.

Khoảng cách giữa “được đào tạo” và “làm được nghề” còn liên quan trực tiếp đến năng suất lao động. Công nghệ và tổ chức sản xuất thay đổi nhanh, khả năng thực hiện công việc, xử lý vấn đề và thích ứng của người lao động tác động trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp và rộng hơn là năng suất của cả nền kinh tế.

Những điều kiện huấn luyện chuyên biệt không thể dành cho mọi sinh viên, nhưng cách thiết kế nhiệm vụ, tổ chức thực hành và đánh giá theo năng lực có thể đi vào đào tạo thường xuyên. Và sau cùng, chất lượng đào tạo vẫn được đo bằng những gì người học thật sự làm được sau những năm học nghề.

THU TRANG

Làn sóng đổi mới chính sách đang thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ từ tiếp cận dựa trên bằng cấp sang đánh giá thực chất theo năng lực và hiệu quả công việc. Hàng loạt văn bản như Thông tư 79/2026/TT-BGDĐT, Thông tư 87/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 72/2026/TT-BGDĐT đã xác lập khung chuẩn hóa bồi dưỡng người dạy, gắn kết chặt chẽ nhà trường với doanh nghiệp từ khâu xây dựng chương trình đến công nghệ và đánh giá. Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh việc hợp tác này hướng tới tuyển dụng dựa trên khả năng đảm nhiệm vị trí việc làm thay vì phụ thuộc văn bằng. Thực tiễn từ Kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới lần thứ 48 tại Thượng Hải đã phản ánh rõ khoảng cách giữa số giờ thực hành lý thuyết và năng lực giải quyết vấn đề thực tế của người học. Dù đoàn Việt Nam giành ba Huy chương Kỹ năng nghề xuất sắc trong tổng số 12 thí sinh dự thi, những áp lực thao tác của hai sinh viên Lưu Nhật Hào và Nguyễn Nhật An ở nghề Cơ điện tử đã bộc lộ giới hạn của phương pháp rèn luyện rập khuôn. Giảng viên Phan Huy Bằng từ Trường cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng chỉ ra rằng sự khác biệt then chốt nằm ở khả năng ứng biến trước các sự cố chưa từng gặp, điều mà các bài tập định sẵn chưa thể đáp ứng. Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế đòi hỏi đào tạo nghề phải vượt qua giới hạn của việc tăng thời lượng thao tác máy móc. Người học cần được rèn luyện tư duy tự phân tích, tối ưu giải pháp và thích ứng linh hoạt trước biến động công nghệ như trí tuệ nhân tạo. Khi thước đo chuyển từ nội dung đã học sang kết quả làm được, giáo dục nghề nghiệp mới thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất quốc gia.
amung