Bỏ qua điều hướng
•

Nghĩa Đô - vùng đất đậm văn hoá, lễ hội của người Tày ở Lào Cai

Nghĩa Đô - vùng đất đậm văn hoá, lễ hội của người Tày ở Lào Cai
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Giữa những dãy núi trùng điệp, bên dòng Nậm Luông, xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai có thung lũng rộng, bằng phẳng với hơn 1.300 nếp nhà sàn truyền thống của người Tày với nhiều hoạt động văn hoá, lễ hội. Nghi thức cưới hỏi độc đáo của người Tày thu hút 53 cô gái Hoa hậu Việt Nam Đám cưới lạ của người Tày ...

Từ bản mường xưa đến ngôi đền chung

Ở đây, Đền Nghĩa Đô là nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung của cộng đồng người Tày trong vùng. Hằng năm, vào ngày 14/7 âm lịch, người dân các thôn bản cùng tổ chức tế lễ, dâng sản vật và thực hiện những nghi thức truyền thống. Trong đó có nghi thức xin mổ trâu, rước kiệu trâu và tế lễ tại đền.

Trong lễ tế, các thôn bản cùng chuẩn bị lễ vật, từ thịt trâu, rượu, cơm, hoa quả đến chè nước, trầu cau và những món ăn truyền thống. Các mâm lễ chính được chuẩn bị với chín món khác nhau, sử dụng sản vật địa phương. Đại diện các thôn lần lượt đưa lễ vào đền, dâng lên các ban thờ Đức Chúa, Đức Tả, Đức Hữu và những vị được thờ tự tại đây.

Ông Lương Cao Thế, Trưởng phòng Văn hóa xã Nghĩa Đô cho biết, các nghi thức trong lễ hội được cộng đồng gìn giữ, thực hành theo những tập quán đã có từ lâu đời. Đây cũng là dịp người dân các thôn bản gặp gỡ, cùng tham gia những công việc chung của cộng đồng.

9890421e-5f68-4940-a754-c5b0c09cb5a9.jpg
0v5a8422.jpg
0v5a8453.jpg
Những nghi thức trong lễ hội được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn với tín ngưỡng thờ thần linh và mong ước về cuộc sống bình yên, mùa màng thuận lợi.

Theo tư liệu về di tích, vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khu vực này khi ấy còn gọi là Mường Khuông, đã có người Tày cư trú ổn định. Tư liệu địa phương ghi lại, người đứng đầu mường khi ấy là ông Nguyễn Tài Cam đã triệu tập các trưởng tộc, tạo bản và người làm việc cúng tế để bàn việc tìm một ngôi đền linh thiêng về thờ. Sau khi cử người đi khảo sát nhiều nơi, cộng đồng thống nhất chọn bản Xùng Đô, thuộc Bảo Nhai (nay thuộc xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai), nơi có ngôi đền của người Tày thờ các vị tướng có công với dân, với nước.

Năm 1847, ba người được cử lên Xùng Đô để xin một nhánh đền về thờ, gồm ông Hoàng Văn Tếp, ông Lương Văn Thỏi và ông Cổ Văn Nhập. Chuyến đi đầu tiên, họ được người dân Xùng Đô tiếp đón và đặt điều kiện phải kết nghĩa anh em, đồng thời hằng năm cử người mang lễ vật lên tham gia tế đền vào ngày 14/7 âm lịch.

Chuyến đi tiếp theo trong năm 1847 không thành vì ông Cổ Văn Nhập bị đau bụng nặng rồi qua đời trên đường trở về. Đến năm 1848, những người còn lại tiếp tục lên Xùng Đô trình bày sự việc. Sau nhiều lần bàn bạc, người dân Mường Khuông vẫn quyết định tiếp tục xin đền. Năm 1849, đoàn do ông Hoàng Văn Tếp, ông Lương Văn Thỏi và ông Nguyễn Văn Cịu đại diện đã mang lễ vật lên Xùng Đô. Hai bên cùng tổ chức tế lễ, sau đó phía Xùng Đô đồng ý chia đền và giao một số vật dụng thờ tự cho đoàn mang về.

tp-bl_0v5a8467.jpg
Ông Lương Cao Thế, Trưởng phòng Văn hóa xã Nghĩa Đô đọc văn tế.

Trên đường trở về, đoàn gặp mưa lũ tại khu vực Nặm Rịa. Chiếc lư hương bị nước cuốn trôi, sau đó được người dân địa phương cùng tìm thấy. Tư liệu lưu truyền cho biết, để cảm ơn sự giúp đỡ của người dân bản Nặm Rịa, đoàn đã tổ chức khao lễ và đặt tên bản là Xắc Xa, gắn với việc tích cực tìm kiếm chiếc lư.

Sau khi đưa được các vật thờ về Mường Khuông, người dân tiếp tục tìm địa điểm dựng đền. Qua nhiều lần lựa chọn, cộng đồng thống nhất dựng đền tại khu vực Pú Chè, nơi có địa thế nhìn ra cánh đồng và dòng Nậm Luông. Việc dựng đền được các thôn cùng đảm nhiệm: nơi lo bộ khung, nơi chuẩn bị lạt buộc, rui mè, nơi lo vật liệu lợp mái. Người dân góp công, góp của để hoàn thành công trình.

Ngày 14/7 năm Canh Tuất, tức năm 1850, ngôi đền được khánh thành, các vị được thờ được rước vào an vị. Đây cũng là dịp tên Mường Khuông được đổi thành Mường Nghĩa Đô. Theo tư liệu địa phương, tên gọi Đền Nghĩa Đô gắn với câu chuyện kết nghĩa giữa người dân Mường Khuông và Xùng Đô, thể hiện tình nghĩa giữa hai cộng đồng trong việc trao gửi nơi thờ tự.

Những phong tục còn hiện diện

Ngoài lễ hội Đền Nghĩa Đô, trong năm, người Tày nơi đây còn duy trì nhiều nghi lễ gắn với nông lịch và hoạt động sản xuất nông nghiệp như Lễ hội Lồng tồng, các nghi lễ dịp rằm tháng Bảy và lễ mừng lúa mới.

Không gian văn hóa ấy còn hiện diện trong những nếp nhà sàn truyền thống nằm dọc thung lũng Nậm Luông. Hơn 1.300 ngôi nhà sàn tạo nên diện mạo đặc trưng của các bản Tày ở Nghĩa Đô.

Những giá trị văn hóa còn được thể hiện qua tiếng Then, đàn tính và các hình thức diễn xướng dân gian. Trong những dịp cưới hỏi, ma chay hay sinh hoạt cộng đồng, người Tày có những làn điệu, nghi thức riêng. Bên cạnh đó là nghề dệt thổ cẩm, đan lát truyền thống, tạo ra những sản phẩm phục vụ sinh hoạt gia đình. Các kỹ năng làm nghề được truyền từ người lớn tuổi sang lớp trẻ, gắn với những công việc quen thuộc trong đời sống bản làng.

1787803677530-4609324773184134597-4609324773184134597-a9b5635d5072c1224a0a979068f327b6.jpg
Hơn 1.300 ngôi nhà sàn tạo nên diện mạo đặc trưng của các bản Tày ở Nghĩa Đô.

Trong các dịp lễ hội, những sinh hoạt văn hóa dân gian cũng được giới thiệu để người dân và du khách cùng tham gia. Các trò chơi như đánh quay, bịt mắt bắt vịt, đẩy gậy, nhảy sạp được tổ chức bên cạnh hoạt động giới thiệu nghề đan lát. Cà kheo cũng là trò chơi dân gian được người dân lưu truyền. Theo lời kể của người địa phương, trước đây, khi chưa có cầu, đường đi lại còn khó khăn, người dân sử dụng những thân cây dài, tạo chỗ đặt chân để di chuyển qua suối rồi dần trở thành trò chơi dân gian.

Không gian văn hóa của các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn cũng được thể hiện qua những hoạt động như viết chữ Nôm của người Dao, múa khèn của người Mông. Những nét riêng trong trang phục, tiếng nói, trò chơi và sinh hoạt của mỗi dân tộc cùng góp phần tạo nên đời sống văn hóa đa dạng ở Nghĩa Đô.

Theo ông Lương Cao Thế, đời sống văn hóa của người Tày ở Nghĩa Đô vẫn lưu giữ nhiều phong tục, tập quán và hình thức sinh hoạt dân gian được truyền qua các thế hệ. Từ tiếng nói, trang phục, ẩm thực, nhà sàn đến hát Then, các hình thức diễn xướng trong đám cưới, đám tang và nghề dệt thổ cẩm, đan lát truyền thống, mỗi giá trị đều gắn với đời sống của cộng đồng.

Nằm giữa thung lũng bằng phẳng bên dòng Nậm Luông, xã Nghĩa Đô thuộc tỉnh Lào Cai là địa bàn cư trú lâu đời của người Tày với quần thể hơn 1.300 nếp nhà sàn truyền thống. Không gian này không chỉ bảo tồn cảnh quan nguyên sơ mà còn là trung tâm thực hành các nghi lễ dân gian đặc sắc, tiêu biểu là lễ hội rước kiệu và tế đền Nghĩa Đô vào ngày 14/7 âm lịch hằng năm. Lịch sử hình thành ngôi đền gắn liền với giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX khi vùng đất này còn mang tên Mường Khuông dưới sự dẫn dắt của ông Nguyễn Tài Cam. Trải qua nhiều biến cố cùng hành trình xin nhánh đền từ bản Xùng Đô kéo dài từ năm 1847 đến năm 1849 của các đại diện Hoàng Văn Tếp, Lương Văn Thỏi và Nguyễn Văn Cịu, cộng đồng đã rước thành công các vật dụng thờ tự về bản địa. Vị trí dựng đền được người dân thống nhất lựa chọn tại khu vực Pú Chè với thế đất nhìn ra cánh đồng và dòng suối chở che mùa màng. Trong mỗi kỳ tế lễ, đại diện các thôn bản trang trọng dâng mâm cúng gồm chín món ẩm thực bản địa lên các ban thờ Đức Chúa, Đức Tả và Đức Hữu để cầu mong mưa thuận gió hòa. Theo ông Lương Cao Thế, Trưởng phòng Văn hóa xã Nghĩa Đô, các tập tục cổ truyền được gìn giữ nghiêm cẩn chính là sợi dây liên kết bền chặt tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Nghi thức tín ngưỡng này tiếp tục khẳng định giá trị bản sắc độc đáo và ý thức cội nguồn sâu sắc của đồng bào Tày vùng Tây Bắc.
amung