Bỏ qua điều hướng
•

Giới hạn nào cho khói thuốc?

Giới hạn nào cho khói thuốc?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Pháp luật không cấm người trưởng thành hút thuốc. Nhưng lựa chọn ấy phải dừng lại ở một “bức tường” không thể xâm phạm: An toàn và sức khỏe của người bên cạnh.

Sáng Chủ nhật tuần trước, tôi đưa con gái nhỏ ghé một quán cà phê sân vườn. Chưa đầy 30 phút, hai cha con phải đổi chỗ hai lần vì khói thuốc từ bàn kế bên liên tục bay sang. Đến lần thứ ba, khi nhóm khách vừa ngồi xuống bàn đối diện đã “châm lửa mời nhau”, tôi đành dắt con ra về, bỏ dở buổi sáng cuối tuần.

Điều đáng nói là không ai trong số họ vi phạm pháp luật. Quán cà phê sân vườn là không gian ngoài trời, và luật hiện hành không cấm hút thuốc ở đó. Câu chuyện của tôi vì thế không cá biệt: Bất kỳ ai bước vào một không gian công cộng có mái che, có hiên, có sân đều có thể trở thành “nạn nhân bất đắc dĩ” của khói thuốc hợp pháp.

Dưới góc độ y khoa, một điếu thuốc tạo ra ba tầng nguy cơ. Thứ nhất là khói người hút trực tiếp hít vào. Thứ hai là khói thuốc thụ động phát tán ra xung quanh. Thứ ba là “khói thuốc thứ ba” (third-hand smoke), thuật ngữ do nhóm nghiên cứu của bác sĩ Jonathan Winickoff tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (thuộc Trường Y Harvard) đưa ra năm 2009 trên tạp chí Pediatrics, chỉ dư lượng chất độc bám trên bề mặt, tích tụ trong bụi, rồi tiếp tục phát tán trở lại không khí.

Giới hạn nào cho khói thuốc? - 1

Mỗi năm Việt Nam có khoảng 18.800 ca tử vong do hút thuốc thụ động (Ảnh minh họa: DT).

Nghiên cứu sau đó của Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (Mỹ) còn cho thấy dư lượng nicotine trên bề mặt có thể phản ứng với các chất trong không khí để tạo ra những hợp chất gây ung thư mới. Khói thuốc, nói cách khác, không biến mất khi điếu thuốc tắt.

Ở tầng thứ hai, Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Bộ Y tế) ước tính mỗi năm Việt Nam có khoảng 18.800 ca tử vong do hút thuốc thụ động, trong tổng số hơn 104.000 ca tử vong liên quan đến thuốc lá. Theo Điều tra tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (PGATS) năm 2022, 44,4% người từ 15 tuổi trở lên bị phơi nhiễm khói thuốc tại nhà và 23,1% tại nơi làm việc. Tại nhà, phụ nữ và trẻ em là nhóm phơi nhiễm nhiều nhất. Còn tại nhà hàng, quán ăn, các đợt điều tra của Bộ Y tế nhiều năm qua đều ghi nhận tỷ lệ phơi nhiễm cao hơn hẳn, thường trên 60%.

Về mặt thể chế, chúng ta đã đi được một chặng đường dài. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 (có hiệu lực từ tháng 5/2013) đặt nền móng cho môi trường không khói thuốc. Ngày 30/11/2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết 173/2024/QH15, cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (dự thảo) đã được trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp đang diễn ra.

Dự thảo Luật mở rộng các biện pháp hạn chế tác hại của thuốc lá; dự thảo Nghị định kèm theo đặt ra lộ trình đưa cả khách sạn, quán bar, karaoke, vũ trường, những nơi hiện còn được phép có phòng hút thuốc riêng, trở thành nơi cấm hoàn toàn trong nhà. Theo tôi, đó là hướng đi đúng và cần được ủng hộ.

Nhưng nếu nhìn từ thực tế, cả Luật hiện hành lẫn dự thảo vẫn để lại một khoảng trống nằm ngay trong hai chữ “trong nhà”.

Luật đang phân loại địa điểm theo kiến trúc: “Trong nhà”, “trong phạm vi khuôn viên”, “nơi dành riêng cho người hút”. Khói thuốc thì không phân loại như thế. Chỉ cần bước qua cánh cửa kính, ngồi dưới mái hiên, ngoài ban công hay trong sân vườn, việc châm thuốc lập tức trở thành hợp pháp, dù người ngồi cách đó vài mét, kể cả phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ, vẫn đang hít đúng thứ khói mà luật muốn ngăn chặn ở bên trong. Nghiên cứu của Đại học Stanford năm 2007 đo trực tiếp nồng độ khói thuốc ngoài trời cho thấy ở khoảng cách gần người hút, mức phơi nhiễm có thể tương đương trong nhà, và chỉ giảm rõ rệt khi cách xa vài mét trong điều kiện thông thoáng. Mái che, tường bao và gió lặng, những đặc điểm phổ biến của hiên quán và sân vườn, khiến khói tan chậm hơn nhiều.

Nói cách khác, chúng ta đang dùng một định nghĩa cơ học về không gian xây dựng để xử lý một nguy cơ y tế có đặc tính phát tán trong không khí. Người xung quanh chỉ còn cách nín thở hoặc đứng dậy đi. Chủ quán cũng khó mở lời, vì không có quy định nào để viện dẫn.

Tôi cho rằng dự thảo cần bổ sung khái niệm “vùng phơi nhiễm” ngoài trời, với ba cấu phần cụ thể.

Thứ nhất, xác định rõ nhóm không gian ngoài trời phải cấm hút thuốc hoàn toàn: Khu vực phục vụ ăn uống ngoài trời của nhà hàng, quán cà phê; điểm chờ xe buýt, nhà chờ bến xe; và khoảng cách tối thiểu tính từ cửa ra vào, cửa sổ mở, cửa lấy gió của các địa điểm đã cấm hút thuốc trong nhà. Tiêu chí ở đây là nơi tập trung đông người, người không hút không dễ rời đi, hoặc khói dễ lọt vào trong nhà.

Thứ hai, quy định khoảng cách tối thiểu bằng con số. Nhiều bang của Úc, tỉnh bang của Canada và thành phố ở Mỹ đã cấm hút thuốc tại khu vực ăn uống ngoài trời và quy định khoảng cách từ 4 đến 10 mét quanh lối vào, sân chơi, bến chờ. Việt Nam có thể chọn một mốc trong khoảng này; với những khuôn viên đủ rộng, cho phép bố trí khu hút thuốc riêng được đánh dấu rõ, cách xa khu vực phục vụ và lối vào ít nhất bằng khoảng cách đó. Con số cụ thể nên do Bộ Y tế đề xuất trên cơ sở đo đạc trong điều kiện khí hậu, kiến trúc trong nước, và trao cho chính quyền cấp tỉnh thẩm quyền mở rộng phạm vi cấm tại địa bàn mình.

Thứ ba, gắn trách nhiệm với người đứng đầu cơ sở, như luật đã làm với không gian trong nhà: Treo biển, bố trí khu vực, nhắc nhở khách. Có người sẽ hỏi: quy định trong nhà còn thực thi yếu, mức phạt theo Nghị định 90/2026 chỉ 200.000 đến 500.000 đồng và hiếm khi được áp dụng, thêm quy định ngoài trời liệu có ý nghĩa? Tôi nghĩ ngược lại. Một ranh giới rõ ràng, có thể nhìn thấy và đo được, dễ thực thi hơn nhiều so với tình trạng hiện nay, khi chủ quán và khách hàng đều không biết mình có quyền gì. Luật trước hết tạo ra chuẩn mực để người ta viện dẫn, rồi mới đến xử phạt. Kinh nghiệm với quy định cấm hút thuốc trong bệnh viện, trường học, trên máy bay cho thấy khi ranh giới rõ, hành vi thay đổi dù xử phạt không nhiều.

Tất nhiên, kiểm soát tác hại thuốc lá không thể chỉ trông vào ranh giới không gian. Pháp luật cần vận hành đồng bộ với truyền thông chính sách, mở rộng dịch vụ hỗ trợ cai nghiện tại cơ sở y tế, tăng thuế tiêu thụ đặc biệt và kiểm soát trưng bày tại điểm bán để giảm khả năng tiếp cận, những nội dung mà dự thảo lần này cũng đã đề cập.

Pháp luật không cấm người trưởng thành hút thuốc. Nhưng lựa chọn ấy phải dừng lại ở một “bức tường” không thể xâm phạm: An toàn và sức khỏe của người bên cạnh. Và “bức tường” đó cần được vẽ theo nơi khói thuốc đi tới, chứ không phải theo nơi bức tường gạch kết thúc.

Tác giả: Thạc sĩ Trương Thế Nguyễn tốt nghiệp ngành Quản lý công tại Học viện Hành chính quốc gia (Việt Nam); hiện nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện Chính trị khu vực IV (thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).

Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!

Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 18.800 ca tử vong do hút thuốc thụ động trong tổng số hơn 104.000 trường hợp tử vong liên quan đến thuốc lá. Dưới góc độ y khoa, tác hại không chỉ dừng ở khói hít trực tiếp hay khói thụ động xung quanh, mà còn tồn tại mối đe dọa từ dư lượng chất độc bám trên bề mặt tiếp tục phản ứng để tạo ra hợp chất gây ung thư mới. Thực trạng này biến nhiều người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, thành nạn nhân bất đắc dĩ tại các không gian sinh hoạt chung. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành năm 2022 cho thấy 44,4% người từ 15 tuổi trở lên bị phơi nhiễm tại nhà và hơn 60% tại các nhà hàng, quán ăn. Dù Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 cùng Nghị quyết 173/2024/QH15 đã tạo hành lang pháp lý ngày càng chặt chẽ, khoảng trống lớn vẫn xuất hiện ở những khu vực bán lộ thiên như quán cà phê sân vườn. Việc luật hiện hành và dự thảo sửa đổi phân loại địa điểm theo tiêu chí kiến trúc vô tình tạo ra vùng đệm hợp pháp cho hành vi xả khói thuốc. Dự thảo sửa đổi luật đang đề xuất lộ trình cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà tại khách sạn, quán bar hay vũ trường. Định hướng này khẳng định nguyên tắc bảo vệ quyền được hít thở không khí trong lành của cộng đồng phải đặt cao hơn quyền tự do sử dụng thuốc lá ở nơi công cộng. Hoàn thiện các quy định kiểm soát thực chất theo mức độ tập trung đông người sẽ là chìa khóa then chốt nhằm thu hẹp những nguy cơ phơi nhiễm tiềm ẩn.
amung