Bỏ qua điều hướng

Hàng chục mộ liệt sĩ được tìm thấy ở đồi Đá Vôi, Lào Cai: 'Lựu đạn, súng được tìm thấy giúp tôi nhận ra đồng đội'

Hàng chục mộ liệt sĩ được tìm thấy ở đồi Đá Vôi, Lào Cai: 'Lựu đạn, súng được tìm thấy giúp tôi nhận ra đồng đội'
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Khi chứng kiến những hài cốt cùng các kỷ vật được tìm thấy, các cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu thuộc Trung đoàn 121, Sư đoàn 345 (đơn vị từng chiến đấu tại khu vực đồi Đá Vôi) nhận ra lựu đạn, đạn súng là những trang bị đặc trưng của đơn vị. Những dấu tích ấy giúp họ nhận ra đồng đội sau gần...

Video: Cựu chiến binh kể chuyện những đồng đội đã hy sinh tại đồi Đá Vôi.

Ngày 13/9, ông Giàng Quốc Hưng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Lào Cai, trực tiếp có mặt tại hiện trường khu vực đồi Đá Vôi để chỉ đạo công tác cất bốc. Hôm ấy, Thượng tá Phạm Tiến, (trú tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai) cựu cán bộ tham mưu Trung đoàn 121, Sư đoàn 345, Trưởng Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 121, cùng một số đồng đội được mời đến hiện trường.

Giữa khu vực khai quật, lực lượng cất bốc và công binh khẩn trương tìm kiếm từng phần mộ. Sau gần nửa thế kỷ, nhiều phần mộ chỉ còn lại hài cốt và một số di vật. Thế nhưng, khi những quả lựu đạn, viên đạn, súng và các trang bị được tìm thấy, các cựu chiến binh lập tức nhận ra đó là những vật dụng đặc trưng của đơn vị mình.

1789294631487-1011555543506126970-1011555543506126970-8a60d1857cbac6bc9ccc8a208d0209c3-1.jpg
Lãnh đạo tỉnh Lào Cai và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh trò chuyện với Thượng tá Phạm Tiến, cựu cán bộ tham mưu Trung đoàn 121, Sư đoàn 345 (đứng giữa) và chỉ đạo công tác cất bốc hài cốt liệt sĩ.

“Trong 28 hài cốt liệt sĩ được tìm thấy, có những hài cốt nằm cạnh súng, đạn loại M79 và lựu đạn. Chúng tôi nhận ra ngay đó là những trang bị được biên chế, sử dụng tại đơn vị trước đây. Có những hài cốt được gói trong tăng võng tử sĩ, bằng loại bạt nylon che mưa. Những vật dụng ấy đều gắn với tổ chức, biên chế của đơn vị khi chiến đấu tại mặt trận”, ông Tiến chia sẻ.

Ở tuổi 81, sức khỏe đã yếu, nhưng mỗi khi có dịp, ông Tiến vẫn cùng đồng đội về Nghĩa trang liệt sĩ Nam Cường (phường Cam Đường), nơi quy tập hài cốt liệt sĩ tại khu vực đồi Đá Vôi và Nghĩa trang Phố Lu (xã Bảo Thắng) hài cốt liệt sĩ tại khu vực Khe Tôm để thắp hương, tưởng nhớ đồng đội.

Sau chuyến trở lại đồi Đá Vôi cùng lực lượng tìm kiếm để xác minh thông tin hài cốt đồng đội, người ông nhức mỏi, phải nằm nghỉ cả ngày hôm sau. Thế nhưng, khi được hỏi về những người đồng đội năm xưa, ký ức trong ông dường như vẫn nguyên vẹn. Trong căn nhà trên đường Cao Thắng, phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, ông Tiến chậm rãi nhớ lại từng câu chuyện về những người đã cùng mình chiến đấu năm nào.

Nhắc lại những ngày chiến đấu đầu năm 1979, ông Tiến kể, Trung đoàn 121, Sư đoàn 345 được giao nhiệm vụ chốt giữ hướng chính diện thị xã Lào Cai (nay là khu vực phường Cam Đường, phường Lào Cai, tỉnh Lào Cai), phối hợp với các lực lượng trên địa bàn gồm lực lượng bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ nhằm ngăn chặn, làm chậm bước tiến của đối phương, tạo điều kiện sơ tán máy móc, thiết bị từ mỏ apatit và bảo vệ các khu vực trọng yếu.

tp-bl_1789460975539-8054341502305647860-8054341502305647860-9196b87b25a771f8d4f9aec53e75b37e.jpg
tp-bl_1789460975537-8054341502305647860-8054341502305647860-05b2705879d259358d200d487fca5eba.jpg
tp-bl_1789460975547-8054341502305647860-8054341502305647860-cee704db87992aee1f6873ad654a5153.jpg
Lực lượng công binh và tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thực hiện tỉ mỉ, cẩn trọng từng khâu trong quá trình quy tập, cất bốc hài cốt và di vật liệt sĩ.

Các đơn vị của Trung đoàn 121 bắt đầu triển khai lực lượng vào những vị trí được giao từ đêm 17, rạng sáng 18/2/1979. Ba tiểu đoàn của Trung đoàn được bố trí tại những vị trí khác nhau trên tuyến phòng ngự. Trong đó, Tiểu đoàn 4 được giao giữ điểm cao K368, một vị trí có ý nghĩa khống chế khu vực; Tiểu đoàn 5 giữ khu vực dãy Nhạc Sơn 1, 2 và một số điểm cao; Tiểu đoàn 6 đảm nhiệm khu vực từ cầu số 4 Kim Tân đến khu vực đoàn địa chất 304 và điểm cao gần cầu treo Cốc San, dọc phía nam suối Kim Tân. “Lúc đó lực lượng của mình mỏng, trong khi đối phương tập trung lực lượng rất lớn. Các đơn vị lần lượt phải chiến đấu, giữ từng điểm cao, từng vị trí được giao”, ông Tiến nhớ lại.

Những trận đánh diễn ra ác liệt trong nhiều ngày. Theo lời kể của ông Tiến, các điểm cao K368 rồi khu vực Nhạc Sơn lần lượt chịu sức ép lớn từ đối phương. Sau khi một số vị trí phải lui quân, Tiểu đoàn 6 tiếp tục giữ khu vực cầu số 4, trở thành một trong những vị trí chiến đấu cuối cùng của Trung đoàn trên hướng này.

Đến ngày 23/2/1979, đối phương tập trung lực lượng và hỏa lực lớn đánh vào toàn bộ tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 6. Trước sức ép ngày càng tăng, các chốt lần lượt bị tấn công. Cùng thời điểm, ở những vị trí phía trên, các đơn vị của Trung đoàn cũng chịu tổn thất nặng và phải lui về phòng tuyến phía sau.

1789456655860-4455915698526912228-4455915698526912228-6d12e1334e8b741307a4d95bba19b6de-2839.jpg
Các cán bộ tiểu đoàn chụp chung với cán bộ Trung đoàn 121 tại sở chỉ huy năm 1979, ông Phạm Tiến đứng ngoài cùng bên phải. Ảnh: NVCC.
1789456705562-4455915698526912228-4455915698526912228-1c6361e397f0b65ec3692372928369ca.jpg
Ông Phạm Tiến (ngoài cùng bên phải) chỉ thị mục tiêu cho khẩu 12,7mm trên chốt đồi Dài năm 1979. Ảnh: NVCC.

“Đến lúc đó, các đơn vị đã chiến đấu liên tục nhiều ngày. Lực lượng bị tổn thất nhiều, trong khi đối phương lại đánh cả chính diện và tìm cách đánh vòng bên hông. Như vậy, lực lượng kiềm bước tiến của đối phương được 6 ngày, trong phạm vi khoảng 4km”, ông Tiến kể.

Sau khi các vị trí phía trước lần lượt mất, lực lượng còn lại được tổ chức lui về phía sau để củng cố đội hình, phối hợp với các đơn vị khác của Sư đoàn tiếp tục giữ tuyến phòng ngự. Ông Tiến cho biết, thời điểm này tình hình chiến đấu rất căng thẳng, lực lượng hai bên đã quần nhau trong nhiều ngày, trong khi các vị trí mới chưa kịp được tổ chức, củng cố đầy đủ.

“Tiểu đoàn 5 và lực lượng phối hợp được rút về khu vực làng Lớn, nơi được bố trí thành tuyến phòng ngự mới, có đập tràn, cũng chính là khu vực Lò Vôi (đồi Đá Vôi - PV). Khi lực lượng vừa rút về đây, đối phương tổ chức tấn công từ cả hai hướng, sử dụng lực lượng bộ binh và sơn cước đánh vào hai đầu trận địa. Do vừa rút lui, lực lượng chưa kịp ổn định đội hình nên đơn vị tổn thất, hy sinh rất nhiều”, ông Tiến nhớ lại.

Theo ông Tiến, do chiến sự diễn ra liên tục trong nhiều ngày, việc đưa những người hy sinh về các điểm tập kết không thể thực hiện cùng một lúc. Gần 20 ngày chiến đấu, có những người hy sinh không còn nhận ra được ai với ai. Khi đó, lực lượng làm nhiệm vụ chỉ có thể căn cứ vào quân phục, trang bị để phân biệt. Những người hy sinh sau đó được đưa về khu vực đồi Đá Vôi để an táng tạm thời. Đến năm 1982, hài cốt liệt sĩ tại khu vực đồi Đá Vôi được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Nam Cường (phường Cam Đường), còn hài cốt liệt sĩ tại khu vực Khe Tôm được quy tập về Nghĩa trang Phố Lu (xã Bảo Thắng).

tp-bl_1789460975488-8054341502305647860-8054341502305647860-a2328cd49c19d2bec7a3e7f39b472eb4.jpg
tp-bl_1789460975563-8054341502305647860-8054341502305647860-f6f6a85ef931f0de8ae7ae19ad51db24.jpg
Các phần mộ được đưa về nhà quàn tại xã Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Từ những thông tin của các cựu chiến binh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai bắt đầu tìm kiếm tại khu vực đồi Đá Vôi, từ ngày 3 đến 13/9, các lực lượng phát hiện 28 vị trí mộ liệt sĩ. Trước đó, ngày 16/8, Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ lâm thời thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã khai quật, cất bốc 2 phần mộ tại khu vực này. Các phần mộ được đưa về nhà quàn tại xã Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Giữa hàng chục phần mộ chỉ còn lại di vật cốt nhục, một tấm bia mộ bằng xi măng hiếm hoi còn nguyên vẹn, trên đó khắc rõ dòng chữ: Liệt sĩ Phan Lê Nghi (có một phần bị mờ), hy sinh ngày 24/2/1979, quê quán Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Thông qua trang thông tin tìm đồng đội, tìm mộ liệt sĩ của một số kênh truyền thông, gia đình ông Phan Lê Minh (trú tại xã Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) đã đến hiện trường xác minh phần mộ.

Ông Minh đã liên hệ với anh trai ruột là ông Phan Lê Văn (hiện đang trú tại tổ 33, phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai) đến hiện trường. Bố ông - liệt sĩ Phan Lê Nghi - mất khi ông mới tròn 6 tháng tuổi. Gia đình ông đang mong chờ kết quả ADN trùng khớp để có thể nhanh chóng đưa bố về bên mẹ sau gần nửa thế kỷ chia xa.

Theo Bộ CHQS tỉnh Lào Cai, tổng diện tích nghi vấn cần rà soát tại đồi Đá Vôi lên tới 4.000m², tuy nhiên các lực lượng mới chỉ đào tìm được hơn 500m² (khoảng 12,5% diện tích). Hiện tại, toàn bộ 30 hài cốt liệt sĩ đã được di chuyển về nơi lưu giữ trang nghiêm để nhang khói và tiến hành lấy mẫu sinh phẩm phục vụ giám định ADN, từng bước xác định danh tính.

Theo kế hoạch, tỉnh Lào Cai sẽ tổ chức một Lễ truy điệu và an táng cấp tỉnh trang trọng, chu đáo vào cuối tháng 10 tới đây. Để chuẩn bị cho sự kiện này, các cơ quan, đơn vị đang triển khai các phương án tiếp nhận, quàn và an táng hài cốt liệt sĩ, bảo đảm sự trang nghiêm, chu đáo.

anh-3.jpg
Tấm bia mộ được phát hiện tại đồi đá Vôi có bia tên liệt sĩ Phan Lê Nghi, hy sinh ngày 24/2/1979, quê Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.
Ngày 13/9, tại khu vực đồi Đá Vôi, ông Giàng Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai, Trưởng Ban Chỉ đạo tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh, trực tiếp chỉ đạo công tác cất bốc. Trong 28 hài cốt được tìm thấy sau gần nửa thế kỷ, nhiều trường hợp còn nằm cạnh súng, đạn M79, lựu đạn và những trang bị quân dụng. Có mặt tại hiện trường, Thượng tá Phạm Tiến, nguyên cán bộ tham mưu Trung đoàn 121, Sư đoàn 345, nhận ra đây là các vật dụng từng được biên chế cho đơn vị. Một số hài cốt được gói trong tăng võng tử sĩ làm từ bạt nylon che mưa, chi tiết gắn với tổ chức và điều kiện chiến đấu của bộ đội thời điểm ấy. Những di vật không chỉ hỗ trợ xác minh nguồn gốc hài cốt, mà còn nối lại ký ức của những cựu binh với đồng đội đã hy sinh. Đầu năm 1979, Trung đoàn 121 được giao chốt giữ hướng chính diện thị xã Lào Cai, nay thuộc khu vực phường Cam Đường và phường Lào Cai, phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ. Nhiệm vụ của đơn vị là ngăn chặn, làm chậm bước tiến của đối phương, tạo điều kiện sơ tán máy móc, thiết bị từ mỏ apatit và bảo vệ các khu vực trọng yếu. Từ đêm 17, rạng sáng 18/2/1979, ba tiểu đoàn của trung đoàn triển khai trên tuyến phòng ngự, trong đó Tiểu đoàn 4 giữ điểm cao K368. Ở tuổi 81, sức khỏe đã yếu, ông Phạm Tiến vẫn cùng đồng đội đến Nghĩa trang liệt sĩ Nam Cường và Nghĩa trang Phố Lu thắp hương tưởng niệm. Sau chuyến trở lại đồi Đá Vôi để hỗ trợ xác minh, ông phải nằm nghỉ cả ngày vì nhức mỏi, nhưng ký ức về những người từng sát cánh vẫn nguyên vẹn. Việc tìm kiếm tỉ mỉ của lực lượng công binh và quy tập đang từng bước đưa các liệt sĩ trở về, đồng thời bổ sung những chứng tích cụ thể cho lịch sử chiến đấu tại biên giới Lào Cai.