Giảm từ 1,5 - 2%
Sau chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về ổn định, giảm mặt bằng lãi suất (LS) cho vay, hàng loạt NH đã công bố giảm LS. Cụ thể, Agribank giảm LS cho vay 2%/năm so với LS thông thường, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và khách hàng sản xuất kinh doanh, góp phần giảm áp lực chi phí vốn và tạo điều kiện để doanh nghiệp, người dân duy trì, mở rộng hoạt động, phát triển kinh tế theo mục tiêu định hướng. Song song, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng 70.000 tỉ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới với LS cho vay thấp hơn 1 - 2%/năm so với LS cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Trong khi đó, BIDV thông báo triển khai gói tín dụng khoảng 100.000 tỉ đồng, kỳ hạn cho vay đến 6 tháng với mức giảm LS từ 1,5 - 2%, đưa LS cho vay còn từ 6 - 7% tùy kỳ hạn. Đồng thời, Vietcombank công bố giảm LS cho vay từ 1,5 - 2%/năm, riêng đối với một số lĩnh vực, LS cho vay ngắn hạn được giảm tới 3%/năm so với mức thông thường. Song song, nhà băng này còn giảm LS tiết kiệm 0,5%/năm.

Cần áp dụng đồng bộ nhiều chính sách để kéo giảm lãi suất cho vay
ẢNH: ĐỘC LẬP
Tương tự, VietinBank triển khai giảm LS cho vay tới 2%/năm, ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực trọng điểm và động lực tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026; MB giảm LS 1,5%/năm đối với 5 lĩnh vực ưu tiên, với mức LS cho vay từ 7,9%/năm. Đặc biệt, đối với một số trường hợp được ưu tiên hỗ trợ, MB xem xét áp dụng mức giảm lên tới 2%/năm, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn tín dụng với chi phí hợp lý.
Nhiều NH thương mại khác cũng tham gia đợt giảm này như Vietbank dành 3.000 tỉ đồng cho vay với LS thấp hơn 1,5%/năm so với mức thông thường; Sacombank triển khai gói tín dụng 40.000 tỉ đồng, giảm LS cho vay 2%/năm, với LS ưu đãi từ 8,5%/năm dành cho doanh nghiệp trong nước hoạt động trong những ngành nghề chủ lực, có nhu cầu bổ sung vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh; doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Hay LPBank công bố từ nay đến cuối năm giảm 1,6 - 2%/năm LS cho vay đối với các khoản giải ngân mới phục vụ sản xuất, kinh doanh ngắn hạn của cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ… Ngoài LS cho vay, một số NH như Vietbank, BVBank còn giảm 0,5 - 0,6%/năm đối với LS tiền gửi các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Chỉ khi lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu thì chính sách tiền tệ mới có thể được áp dụng linh hoạt, tìm được điểm cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Khi đó NHNN cũng sẽ có dư địa để áp dụng nhiều công cụ hỗ trợ thanh khoản cho các NH, đưa vốn ra nền kinh tế, góp phần giảm được LS cho vay.
Chuyên gia kinh tế, Đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng NgânTại cuộc họp với lãnh đạo các NH thương mại sáng qua 20.10, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết muốn giảm LS cho vay thực chất, các NH phải đồng thời tiết giảm chi phí hoạt động, chia sẻ lợi nhuận và giảm chi phí huy động vốn; nếu tiếp tục đẩy LS huy động lên cao sẽ khó có cơ sở giảm LS cho vay. Các NH cũng cần lưu ý việc giảm LS không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng, cân đối với khả năng tài chính của từng NH, và cần xem xét đối với cả dư nợ hiện hữu và khoản vay mới. NHNN sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ các NH triển khai nhưng không đánh đổi an toàn hệ thống.
Cần nhiều chính sách kéo giảm lãi vay
Chuyên gia kinh tế, Đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân cho rằng việc NHNN đưa ra các giải pháp, yêu cầu cụ thể đối với các tổ chức tín dụng trong thời điểm này là vô cùng cấp thiết, nhằm giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn. Để thực hiện mục tiêu, NHNN trước hết cần tăng cường giám sát để đảm bảo các NH thương mại thực hiện nghiêm túc. Song song đó, trong trường hợp cho phép, NHNN cần tăng thanh khoản, cung ứng vốn cho các NH thông qua thị trường liên NH, sẵn sàng tái cấp vốn cho các dự án trọng điểm, dự án lớn. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng có thể đưa ra thông điệp sẵn sàng tăng "room" cho các đơn vị thực hiện tốt quy định, đặc biệt là giảm LS cho vay. Điều này cũng giúp các NH có dư địa cho vay trong thời điểm cuối năm.

Đã có nhiều ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước
ẢNH: ĐỘC LẬP
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng trong cung ứng vốn và ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng không thể một mình giải quyết mọi nhu cầu vốn của nền kinh tế. Vì vậy, cần kết hợp với chính sách tài khóa mới thật sự đạt hiệu quả trong việc giảm LS. Cụ thể, ông Trần Hoàng Ngân phân tích: Chính phủ còn dư địa để thực hiện chính sách tài khóa mở rộng khi nợ công chỉ ở mức khoảng 33% GDP. Cần tiếp tục thực hiện giảm thuế, phí có các hàng hóa do nhà nước quản lý như xăng dầu, y tế, giáo dục… để kiềm chế lạm phát. Trên cơ sở đó, NHNN mới có niềm tin và dư địa để thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát và đảm bảo an toàn cho hệ thống NH. "Chỉ khi lạm phát được kiểm soát trong mục tiêu thì chính sách tiền tệ mới có thể được áp dụng linh hoạt, tìm được điểm cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Khi đó NHNN cũng sẽ có dư địa để áp dụng nhiều công cụ hỗ trợ thanh khoản cho các NH, đưa vốn ra nền kinh tế, góp phần giảm được LS cho vay", PGS-TS Trần Hoàng Ngân chia sẻ.
Theo Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn, tính đến cuối tuần qua, huy động vốn tăng 11,22% và tín dụng tăng 11,44%; chênh lệch giữa dư nợ cho vay và huy động vốn bằng VND từng ở mức gần 2 triệu tỉ đồng nay giảm xuống dưới 1,5 triệu tỉ đồng. Đến ngày 14.10, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt 20,721 triệu tỉ đồng, tăng 11,44% so với cuối năm trước và tăng 16,73% so cùng kỳ.
Trong khi đó, PGS-TS Phạm Thế Anh, Trưởng khoa Kinh tế học ĐH Kinh tế Quốc dân, phân tích: muốn giảm LS cho vay thì cần nhìn vào vấn đề phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế. Nguồn vốn có giới hạn, nên khi vốn được tập trung nhiều vào một nhóm dự án hoặc doanh nghiệp thì phần vốn dành cho các đối tượng khác sẽ giảm đi. Chẳng hạn, nếu nguồn vốn được dồn nhiều vào các dự án đầu tư công lớn hoặc dự án của những tập đoàn lớn, thì lượng vốn còn lại dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, sẽ ít đi. Chủ trương giảm LS cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên là một định hướng tốt nhưng việc thực hiện trên thực tế vẫn gặp thách thức do động cơ lợi nhuận của NH và cơ chế phân bổ vốn theo thị trường.
Từ đó, ông Phạm Thế Anh lưu ý một vấn đề quan trọng hiện nay là tình trạng tồn đọng bất động sản và nợ xấu phát sinh từ thị trường bất động sản. Trong nhiều năm, việc tín dụng được mở rộng tương đối dễ dàng đã góp phần thúc đẩy hoạt động đầu cơ bất động sản. Hệ quả là một lượng vốn lớn bị gắn vào các tài sản bất động sản có giá cao nhưng khó thanh khoản, bao gồm cả tài sản của chủ đầu tư dự án và tài sản do giới đầu cơ nắm giữ. Khi bất động sản khó bán, dòng tiền bị đình trệ. Muốn khơi thông dòng vốn, cần xử lý các tài sản tồn đọng và những khoản nợ xấu liên quan. Đối với tài sản bảo đảm phát sinh từ nợ xấu, việc xử lý hoặc phát mại tài sản có thể là một trong những biện pháp cần thiết. Đối với các chủ đầu tư đang có lượng hàng tồn kho lớn, cần cân nhắc điều chỉnh giá bán về mức thị trường có thể chấp nhận để tiêu thụ sản phẩm, thu hồi tiền và tái tạo dòng vốn. Tuy nhiên, việc giảm LS cho vay không chỉ phụ thuộc vào xử lý nợ xấu mà còn liên quan đến quy mô nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng tín dụng, nhu cầu vốn của các dự án lớn và cơ chế phân bổ vốn của các NH.
Phát triển thị trường vốn
Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu phân tích tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP của VN ở mức khoảng 150%, cho thấy sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào tín dụng NH ở mức cao khi thị trường vốn chưa đủ sâu rộng để cung cấp nguồn tài trợ thay thế. Khi NH là kênh cung ứng vốn chủ yếu, những thay đổi trong NH như LS có thể ảnh hưởng trực tiếp khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, tiến độ đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Việc mở rộng dư địa tín dụng có thể tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo đảm an toàn hệ thống NH và đa dạng hóa kênh cung ứng vốn. Khi thị trường vốn chưa đủ sức chia sẻ gánh nặng tài trợ cho nền kinh tế, NH vẫn phải đảm nhận phần lớn nhu cầu vốn của doanh nghiệp, kể cả những khoản đầu tư trung và dài hạn.
Về lâu dài, sự phụ thuộc này có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản, gây áp lực lên chi phí vốn và hạn chế khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế. Đây là lý do đòi hỏi phát triển thị trường vốn, không chỉ nhằm giảm gánh nặng cho NH mà còn giúp đa dạng hóa nguồn tài trợ và phân tán rủi ro trong toàn bộ hệ thống tài chính. Do đó, để phát triển nguồn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm nâng cao chất lượng công bố thông tin, chuẩn hóa báo cáo tài chính, cải thiện xếp hạng tín nhiệm và tăng cường giám sát việc sử dụng vốn phát hành. Thị trường cần tạo điều kiện để doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt huy động vốn trực tiếp từ nhà đầu tư, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào khoản vay NH. Mục tiêu là hình thành kênh vốn phù hợp với các dự án có thời gian hoàn vốn dài, đồng thời bảo đảm nhà đầu tư có đủ thông tin để đánh giá rủi ro.
Nâng chất lượng thị trường chứng khoán, giúp doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu, giảm áp lực trả nợ và hạn chế phụ thuộc đòn bẩy tín dụng. Song song đó, thị trường trái phiếu cần tăng tính thanh khoản thứ cấp, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức. Cần chú trọng chất lượng quản trị doanh nghiệp, bảo vệ cổ đông và tính minh bạch để tăng niềm tin của nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Ngoài ra, thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào cổ phiếu và trái phiếu VN.
Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu
Một kênh khác được một số nước như Mỹ thực hiện là phát triển quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện. Các quỹ hưu trí có thể tích lũy nguồn tiền dài hạn từ người lao động và doanh nghiệp, sau đó đầu tư vào danh mục tài sản phù hợp với nghĩa vụ chi trả trong tương lai. VN có thể nghiên cứu mở rộng cơ chế đóng góp đồng thời từ người lao động và người sử dụng lao động, ưu đãi thuế phù hợp, quản lý tài sản độc lập và giám sát chặt chẽ. Nguồn tiền này có thể trở thành nhà đầu tư dài hạn trên thị trường trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp đủ điều kiện và các tài sản phù hợp khác. Kinh nghiệm từ các quỹ hưu trí tại Mỹ cho thấy vai trò của nhà đầu tư tổ chức dài hạn, nhưng cơ chế cụ thể cần được thiết kế phù hợp với điều kiện VN.
Ở góc nhìn khác, TS Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu chính sách Trường ĐH VinUni, nhắc đến câu chuyện 2 nhà kinh tế Robert Hall (ĐH Stanford, Mỹ) và Michael Woodford (ĐH Columbia, Mỹ) vừa được trao giải Nobel Kinh tế 2026 nhờ chứng minh rằng chính sách vĩ mô chỉ hiệu quả khi lời hứa của nhà điều hành đáng tin. Đây là lời nhắc chính sách vĩ mô không truyền dẫn qua công cụ, mà qua kỳ vọng, và kỳ vọng chỉ nghe theo những cam kết có thể kiểm chứng. Chuyên gia này phân tích giai đoạn sau cuộc lạm phát 18,58% năm 2011, NHNN phát đi một thông điệp hẹp và lặp lại nhiều năm: Giữ lạm phát dưới 4%, giữ tỷ giá ổn định, kiểm soát tín dụng quanh 12 - 18% thay vì gần 30% như thời 2007 - 2010. LS cho vay khi đó vẫn ở mức 9 - 11%/năm, LS thực dương khá lớn, và sức ép đòi nới lỏng là có thật. Kết quả đến chậm nhưng đến thật: Xuất siêu thay cho nhập siêu triền miên; cán cân thanh toán tổng thể thặng dư kỷ lục 23,25 tỉ USD năm 2019; dự trữ ngoại hối tăng từ khoảng 25 tỉ USD lên hơn 100 tỉ USD, và chính việc mua ngoại tệ đó bơm tiền đồng ra nền kinh tế theo cách có bảo chứng bằng luồng ngoại tệ thực; LS cho vay rơi xuống 6 - 8,5%/năm mà không cần mệnh lệnh hành chính nào. Theo TS Nguyễn Tú Anh, kinh nghiệm từ đó cho thấy không phải "LS thấp tạo tăng trưởng", mà "uy tín tạo LS thấp".
Tuy nhiên, chuyên gia này cũng nhìn nhận bối cảnh hiện nay khó hơn nhiều. Kinh tế tăng trưởng 8,02% năm 2025, quy mô vượt 514 tỉ USD, rồi tăng tiếp 9,01% trong 9 tháng năm 2026 nhưng mục tiêu 2 con số cho cả năm đòi hỏi quý 4/2026 phải đạt khoảng 12,5%. Từ đó, TS Nguyễn Tú Anh gợi ý 3 việc có thể làm ngay. Trước hết là quy tắc phản ứng của nhà điều hành cần được công bố bằng văn bản thay vì để thị trường suy đoán. Tiếp đó, chuyển mục tiêu tăng trưởng từ con số "cứng" sang khoảng mục tiêu kèm điều kiện, vì con số "cứng" buộc chính sách tiền tệ phải phục tùng và làm hỏng chính thông điệp ổn định. Cuối cùng, Chính phủ cần hỗ trợ có mục tiêu cho nhóm hộ gia đình thu nhập thấp, khác với tín dụng giá rẻ dàn đều. Nghĩa là đối với người thu nhập thấp thì hạ LS không có ý nghĩa mà phải dùng chính sách tài khóa để hỗ trợ trực tiếp. Ví dụ nhà nước hỗ trợ họ 1 đồng thì họ sẽ tăng cầu lên 1 đồng chứ không dùng tiền đó để đầu cơ tài sản như khi hạ LS.