Với việc ứng dụng công nghệ GPS, GPRS, xe buýt sẽ không cần lơ xe, hành khách trên xe và ở các trạm chờ sẽ được thông báo liên tục thông tin về khoảng cách bến hoặc tuyến mình sắp xuống hoặc sắp lên. Với mô hình trên, nhóm tác là là SV năm cuối Khoa Cơ khí Chế tạo máy- ĐH Sư phạm kĩ thuật TP.HCM: Ch...
Với việc ứng dụng công nghệ GPS, GPRS, xe buýt sẽ không cần lơ xe, hành khách trên xe và ở các trạm chờ sẽ được thông báo liên tục thông tin về khoảng cách bến hoặc tuyến mình sắp xuống hoặc sắp lên.
Với mô hình trên, nhóm tác là là SV năm cuối Khoa Cơ khí Chế tạo máy- ĐH Sư phạm kĩ thuật TP.HCM: Chu Văn Hiền, Hồ Trọng Hiếu và Phạm Đình Thủy đã hoàn thành xuất sắc khóa luận tốt nghiệp vào tháng 1/2011.
Ý tưởng được bắt nguồn từ một chuyến du lịch Singapore của Chu Văn Hiền. “Nhiều lần đi xe buýt, em thấy chất lượng phục vụ của xe buýt bên nước bạn rất tuyệt. Lúc ngồi ở trạm chờ, em có thể biết tuyến em cần đi sẽ đến trong bao lâu nữa. Trên xe, em được cập nhật liên tục thông tin về khoảng cách, thời gian bến mình sắp xuống”, Văn Hiền cho hay.
Mô hình được lắp đặt thử nghiệm. Ảnh: Văn Hiền
Dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trường Thịnh- Trưởng bộ môn Cơ điện tử- Khoa Cơ khí chế tạo máy, sau 6 tháng thực hiện, nhóm sinh viên đã hoàn thành mô hình.
Cấu tạo của mô hình giám sát hệ thống xe buýt gồm 3 phần chính: máy chủ (giám sát, điều khiển, quản lý xe buýt và các trạm); modun truyền thông tại trạm xe buýt nhận thông tin từ máy chủ để xuất ra quang báo; modun trên xe buýt với nhiệm vụ xác định vị trí- GPS, truyền thông hai chiều tới máy chủ, xuất ra tiếng nói và quang báo.
Mô hình hoạt động này “chạy” theo phương thức sim điện thoại gắn vào modun, điều khiển kết nối máy chủ qua đường truyền Internet.
“Với nhà quản lý, mô hình này giúp giám sát, điều khiển, quản lý xe buýt theo từng tuyến hành trình qua các thông số như lộ trình, tiêu thụ xăng…Hành khách ở trạm chờ và đang ngồi trên xe sẽ được cập nhật thông tin liên tục về bến mình sắp xuống hay tuyến mình sắp lên bằng tiếng nói và bảng quang báo”, Chu Văn Hiền giải thích.
Mặt khác, với hệ thống này, các chuyến xe buýt sẽ không cần lơ xe hay phụ xe.
Sắp tới, nhóm tác giả sẽ hoàn thiện mô hình bằng cách phát triển quản lý hệ thống nhiều xe như xe tải, xe taxi, xe buýt; xây dựng trang Web quản lý trực tuyến với hệ thống cơ sở dữ liệu an toàn; lắp đặt bộ thu tiền tự động.
Giá mỗi mô hình dự kiến 2 triệu đồng.
Ý tưởng về hệ thống giám sát xe buýt thông minh bắt đầu từ mong muốn cải thiện trải nghiệm đi lại, giúp hành khách biết chính xác phương tiện đang ở đâu và sắp đến trạm nào. Nhờ ứng dụng công nghệ GPS và GPRS, xe buýt có thể liên tục xác định vị trí, truyền dữ liệu, cung cấp thông tin cần thiết cho người ngồi trên xe lẫn người đang chờ tại trạm. Mô hình này hướng tới việc giảm phụ thuộc vào lơ xe, đồng thời tạo ra phương thức vận hành hiện đại, thuận tiện và minh bạch hơn cho giao thông công cộng.
Công trình do ba sinh viên năm cuối Khoa Cơ khí Chế tạo máy, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, gồm Chu Văn Hiền, Hồ Trọng Hiếu và Phạm Đình Thủy, thực hiện. Nhóm đã hoàn thành xuất sắc khóa luận tốt nghiệp vào tháng 1/2011, sau sáu tháng nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trường Thịnh. Ông Thịnh khi đó là Trưởng bộ môn Cơ điện tử, Khoa Cơ khí chế tạo máy, trực tiếp hỗ trợ nhóm hoàn thiện giải pháp kỹ thuật cho hệ thống.
Ý tưởng nảy sinh từ chuyến du lịch Singapore của Chu Văn Hiền, khi anh quan sát cách xe buýt tại nước bạn cung cấp thông tin cho hành khách. Nhiều lần sử dụng xe buýt ở Singapore, Hiền nhận thấy người ngồi tại trạm có thể biết tuyến cần đi còn bao lâu sẽ tới, trong khi hành khách trên xe liên tục nhận thông báo về khoảng cách và thời gian đến bến. Trải nghiệm ấy khiến nhóm đặt câu hỏi về khả năng xây dựng một hệ thống tương tự, phù hợp với điều kiện quản lý và vận hành xe buýt trong nước.
Mô hình sau đó được lắp đặt thử nghiệm, gồm ba bộ phận chính với chức năng liên kết chặt chẽ trong quá trình giám sát và cung cấp dữ liệu. Bộ phận thứ nhất là máy chủ, đảm nhiệm việc giám sát, điều khiển, quản lý xe buýt cùng các trạm trên từng tuyến hành trình. Bộ phận thứ hai là mô-đun truyền thông tại trạm xe buýt, tiếp nhận thông tin từ máy chủ rồi hiển thị dữ liệu bằng bảng quang báo cho người đang chờ.
Bộ phận thứ ba nằm trên xe buýt, thực hiện nhiều nhiệm vụ gồm xác định vị trí bằng GPS, truyền thông hai chiều với máy chủ, phát thông tin bằng tiếng nói và hiển thị bằng quang báo. Các mô-đun liên lạc với máy chủ nhờ SIM điện thoại gắn bên trong thiết bị, sau đó sử dụng đường truyền Internet để trao đổi dữ liệu. Cách tổ chức này cho phép máy chủ gửi thông tin đến xe và trạm, đồng thời tiếp nhận dữ liệu vị trí phục vụ công tác quản lý.
Với hành khách tại trạm, hệ thống có thể cung cấp thông tin liên tục về tuyến xe sắp tới, giúp họ chủ động hơn thay vì phải chờ đợi trong tình trạng không biết phương tiện còn cách bao xa. Với người đang ngồi trên xe, tiếng nói và bảng quang báo thông báo bến sắp xuống, hỗ trợ những người chưa quen tuyến hoặc khó quan sát biển báo dọc đường. Thông tin được cập nhật theo hành trình, tạo cảm giác an tâm hơn trong suốt chuyến đi và hạn chế nguy cơ xuống nhầm bến.
Đối với nhà quản lý, mô hình cho phép giám sát, điều khiển và quản lý xe buýt theo từng tuyến thông qua những thông số như lộ trình, mức tiêu thụ xăng cùng các dữ liệu vận hành liên quan. Hệ thống cũng mở ra khả năng theo dõi hoạt động của phương tiện tập trung hơn, thay vì chỉ dựa vào trao đổi thủ công giữa tài xế, phụ xe và đơn vị điều hành. Một điểm đáng chú ý là khi các chức năng thông báo được tự động hóa, chuyến xe buýt có thể không cần lơ xe hoặc phụ xe như cách vận hành truyền thống.
Sau giai đoạn hoàn thiện mô hình, nhóm tác giả dự kiến phát triển hệ thống quản lý nhiều loại phương tiện, gồm xe tải, xe taxi và xe buýt, thay vì chỉ phục vụ một nhóm xe riêng lẻ. Nhóm cũng dự định xây dựng trang Web quản lý trực tuyến đi kèm hệ thống cơ sở dữ liệu an toàn, đồng thời nghiên cứu lắp đặt bộ thu tiền tự động cho phương tiện. Giá mỗi mô hình được dự kiến ở mức 2 triệu đồng, tạo thêm cơ hội đưa giải pháp giám sát xe buýt thông minh từ phòng thí nghiệm vào ứng dụng thực tế.