Bỏ qua điều hướng
•

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Hiệu ứng BIGBANG cho thấy sức hút của âm nhạc với du lịch, dịch vụ, kinh tế là rất lớn, chuyên gia nêu giải pháp để đưa công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng kinh tế mới.

Trong hai đêm 24 và 25/10, concert của nhóm nhạc Hàn Quốc BIGBANG tại sân vận động Mỹ Đình, Hà Nội, thu hút hơn 90.000 lượt khán giả.

Trước đó tại TPHCM, các đêm concert diễn ra hôm 17-18/10 cũng thu hút khoảng 200.000 lượt khán giả.

Những sự kiện quy mô lớn cho thấy sức hút của các chương trình âm nhạc, mở ra cơ hội kinh doanh cho hàng không, khách sạn, ăn uống, vận tải và các dịch vụ phục vụ du khách. Quan trọng hơn là tiềm năng kết nối công nghiệp văn hóa với du lịch, thương mại dịch vụ, tạo thêm nguồn thu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho địa phương và cả nước. 

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế - 1

G-Dragon trong đêm thứ 2 ở Hà Nội (Ảnh: Kiều Minh).

Mới đây, thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội, đề xuất bổ sung các dự án quy mô lớn về hạ tầng công nghiệp văn hóa, công viên công nghệ văn hóa và du lịch di sản số quy mô quốc tế vào nhóm được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt.

Đề xuất này mở ra câu chuyện rộng hơn về cách đưa nguồn lực văn hóa và sức sáng tạo trở thành sản phẩm có giá trị thương mại, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

Doanh nghiệp cần cơ chế khai thác văn hóa thành giá trị kinh tế

Trao đổi với phóng viên Dân trí, TS Phạm Hà, Chủ tịch kiêm CEO LuxGroup, bày tỏ ủng hộ đề xuất trên. Việt Nam có chiều sâu lịch sử, di sản phong phú và sức sáng tạo lớn; vấn đề là tạo môi trường để những nguồn lực đó trở thành sản phẩm có giá trị, tạo sinh kế và nâng cao sức hấp dẫn của đất nước.

“Từ thực tiễn kinh doanh du lịch, tôi thấy du khách sẵn sàng chi trả cho những trải nghiệm giúp họ hiểu và cảm được Việt Nam: một bữa ăn có câu chuyện, một tác phẩm nghệ thuật có nguồn gốc, một hành trình đường thủy kết nối ký ức đô thị với đời sống hôm nay”, ông Hà chia sẻ.

Chính sách ưu đãi không nên chỉ hướng đến các dự án có quy mô vốn lớn mà cần tạo cơ hội cho cả những đơn vị nhỏ có năng lực sáng tạo, như bảo tàng tư nhân, sân khấu chất lượng hay sản phẩm du lịch di sản có tiềm năng vươn ra quốc tế. Việc lựa chọn dự án nên dựa trên giá trị văn hóa, tính khả thi và tác động lan tỏa, đồng thời gắn hỗ trợ với hiệu quả thực tế như tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng và bảo tồn di sản.

Ông Hà cũng lưu ý đầu tư hạ tầng cần đi cùng đầu tư cho con người, nội dung sáng tạo, bảo vệ bản quyền và số hóa di sản có trách nhiệm. Công trình văn hóa chỉ phát huy hiệu quả khi có sản phẩm đủ sức hấp dẫn và đội ngũ vận hành chuyên nghiệp.

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế - 2

Đông đảo khán giả tham gia concert "Tổ quốc trong tim" năm 2026 tại TPHCM (Ảnh: Q.N).

Ở góc độ phát triển thị trường, ông Nguyễn Minh Mẫn, Phó tổng giám đốc VinaGroup Travel, cho rằng bên cạnh tăng đầu tư và xây dựng cơ chế ưu đãi, Việt Nam cần xác định rõ những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và khả năng tạo giá trị kinh tế bền vững.

Các lĩnh vực như ẩm thực, di sản, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, âm nhạc, thời trang và thủ công mỹ nghệ có thể trở thành thế mạnh nếu được đầu tư bài bản, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Để doanh nghiệp tham gia hiệu quả, ông Mẫn đề xuất hoàn thiện cơ chế hỗ trợ về vốn, hạ tầng, công nghệ, nhân lực, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phân phối sản phẩm. Chính sách cần có lộ trình thực hiện, phân định rõ trách nhiệm và tiêu chí đánh giá, thay vì chỉ dừng ở định hướng chung.

Riêng với du lịch, ông Mẫn cho rằng các concert, lễ hội, phim ảnh và các sản phẩm văn hóa cần được kết nối với lưu trú, ẩm thực, vận chuyển, tham quan và mua sắm ngay từ khâu thiết kế. Doanh nghiệp lữ hành nên tham gia sớm để xây dựng sản phẩm phù hợp, thay vì chỉ đón lượng khách phát sinh khi sự kiện diễn ra. Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm trong việc kết nối âm nhạc, phim ảnh với các ngành dịch vụ, là một ví dụ để tham khảo, nhưng cần phát triển dựa trên bản sắc riêng.

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế - 3
Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế - 4

Ông Nguyễn Ngọc An, Phó Tổng Giám đốc Công ty Lữ hành Vietluxtour, nhìn nhận du lịch concert còn nhiều dư địa nhưng doanh nghiệp lữ hành đang gặp khó vì lịch biểu diễn chưa ổn định, phần lớn sự kiện được tổ chức theo nhu cầu thị trường. Từng có khách tìm tour sang Thái Lan xem một ban nhạc Hàn Quốc biểu diễn, nhưng việc tổ chức hành trình riêng gặp khó do thời gian diễn ra sự kiện ngắn, phải kết hợp nhiều dịch vụ như vé máy bay, khách sạn, ăn uống, vận chuyển và vé biểu diễn.

Theo ông An, có thể tham khảo mô hình du lịch thể thao, khi khách đến tham dự giải chạy và ở lại thêm để tham quan địa phương. Để làm được điều tương tự với concert, cơ quan quản lý và đơn vị tổ chức cần phối hợp xây dựng, công bố lịch sự kiện sớm hơn, giúp doanh nghiệp chủ động thiết kế tour và kết nối dịch vụ.

Ở lĩnh vực sản xuất chương trình, ông Đào Văn Kính, Tổng Giám đốc DatVietVAC, đơn vị sản xuất các chương trình Anh trai say hi, Em xinh say hi, từng nhận định ngành truyền thông và giải trí trong nước đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh. Các sản phẩm gắn với nghệ sĩ và thần tượng như áo, mũ, túi hay khăn thiết kế riêng cho buổi diễn có thể mở thêm nguồn thu bên cạnh doanh thu biểu diễn.

Ông Trần Lệ Nguyên, nhà sáng lập, Tổng Giám đốc KIDO kiêm Chủ tịch HĐQT AIRO, cũng từng đánh giá các sự kiện giải trí lớn có thể tạo lực hút cho nhiều ngành, từ du lịch, ẩm thực đến thương mại.

Hiệu ứng BIGBANG: Cần cơ chế đưa công nghiệp văn hóa thành động lực kinh tế - 5

Khán giả, giới trẻ thích thú với các concert mang dấu ấn hoà bình, yêu nước (Ảnh: Q.N).

Đề xuất ưu đãi đặc biệt, cần tiêu chí rõ ràng

Ở tầm quốc gia, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030; đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo đóng góp khoảng 9% GDP. Để tiến tới mục tiêu này, ngoài các dự án lớn, thị trường còn cần hệ sinh thái gồm nghệ sĩ, nhà sản xuất nội dung, doanh nghiệp công nghệ, đơn vị phân phối và các ngành dịch vụ liên quan.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, để phát triển công nghiệp văn hóa, cần hoàn thiện thể chế theo hướng tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Khung pháp lý cần theo kịp những lĩnh vực mới của kinh tế số, đồng thời bảo vệ quyền tác giả, tạo điều kiện khai thác giá trị tài sản trí tuệ và khơi thông nguồn vốn tư nhân.

Ông cho rằng cơ chế phát triển cần vừa mở đường cho các mô hình sáng tạo mới, vừa bảo đảm bản sắc văn hóa và quyền lợi của các chủ thể liên quan. Đây là cơ sở để thu hút doanh nghiệp tham gia, đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường và chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế bền vững.

Trao đổi với phóng viên Dân trí mới đây, TS Đào Thị Thu Hằng, Đại học Kinh tế TPHCM (UEH) nói cần thay đổi cách tiếp cận, công nghiệp văn hóa không chỉ là lĩnh vực đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và kích thích hoạt động của nhiều ngành kinh tế khác.

Cần xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả kinh tế và thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng. Bộ chỉ tiêu thống kê cần thiết lập như doanh thu, giá trị gia tăng và đóng góp vào GDP của từng ngành. Số việc làm, thu nhập và chất lượng việc làm được tạo ra. Chi tiêu tăng thêm của khách tham dự sự kiện, thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân. Tỷ lệ doanh thu, chi phí và giá trị gia tăng được giữ lại trong nước...

Khi có dữ liệu đáng tin cậy, Nhà nước mới có cơ sở để xác định ngành nào cần ưu tiên, loại hạ tầng nào đáng đầu tư, hình thức hỗ trợ nào mang lại hiệu quả và chính sách nào cần điều chỉnh.

Chuỗi concert gần đây của nhóm nhạc Hàn Quốc BIGBANG tại Hà Nội và TPHCM đã thu hút gần 300.000 lượt khán giả, minh chứng rõ nét cho sức lan tỏa mạnh mẽ của các sự kiện biểu diễn quy mô lớn. Không chỉ tạo doanh thu trực tiếp từ bán vé, làn sóng này còn kích hoạt mạnh mẽ chuỗi cung ứng dịch vụ gồm hàng không, lưu trú, ẩm thực và vận tải địa phương. Thực tế trên khẳng định tiềm năng to lớn của việc gắn kết nghệ thuật biểu diễn với thương mại dịch vụ nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế mới. Trước yêu cầu phát triển thị trường, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa đã đề xuất bổ sung các dự án hạ tầng công nghiệp văn hóa, công viên công nghệ văn hóa và du lịch di sản số quy mô quốc tế vào diện hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt. Đồng tình với định hướng này, TS Phạm Hà nhận định chính sách cần mở rộng hỗ trợ cả những mô hình sáng tạo vừa và nhỏ như bảo tàng tư nhân hay sân khấu nghệ thuật. Chuyên gia cũng nhấn mạnh việc đầu tư hạ tầng phải song hành với phát triển nội dung, đào tạo nhân sự và bảo vệ bản quyền để tối ưu hóa giá trị lan tỏa. Ở góc độ khai thác thương mại, ông Nguyễn Minh Mẫn cho rằng Việt Nam cần xác định rõ các mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh bền vững như ẩm thực, di sản, điện ảnh và âm nhạc. Việc xây dựng thương hiệu bài bản cùng chiến lược tiếp thị chuyên nghiệp sẽ giúp chuyển hóa nguồn tài nguyên văn hóa phong phú thành những sản phẩm thương mại có sức cạnh tranh cao. Đây là giải pháp căn cơ để biến sức sáng tạo quốc gia thành nguồn lực kinh tế thực chất trong giai đoạn mới.
amung