Từ kỳ vọng “bom tấn” đến doanh thu gây thất vọng
Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh do Nguyễn Phan Quang Bình đạo diễn, lấy cảm hứng từ truyền thuyết dân gian về lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng. Nội dung xoay quanh hành trình của 7 tráng sĩ nhận mật lệnh đưa 99 quan tài theo những hướng khác nhau nhằm bảo vệ bí mật nơi an táng nhà vua trước âm mưu của các thế lực thù địch.
Đây được xem là một trong những tác phẩm hiếm hoi có quy mô lớn của điện ảnh Việt. Bộ phim được ấp ủ ý tưởng gần 10 năm, trải qua 83 ngày quay ở Ninh Bình và khoảng 7 tháng hậu kỳ, với kinh phí được cho là trên dưới 100 tỷ đồng.

Dàn diễn viên hùng hậu tham gia "Hộ linh tráng sĩ" (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Ê-kíp đầu tư bối cảnh, phục trang, đạo cụ, thiết kế mỹ thuật và các trường đoạn chiến đấu. Phần hành động do Johnny Trí Nguyễn đảm nhận, quy tụ nhiều diễn viên có nền tảng võ thuật. Ngoài ra, phim còn quy tụ dàn diễn viên hùng hậu như Tuấn Trần, Đỗ Thị Hải Yến, NSND Tự Long, Quách Ngọc Ngoan, Hứa Vĩ Văn...
Những hình ảnh về bối cảnh Ninh Bình, trang phục lấy cảm hứng từ thời Đinh - Tiền Lê cùng các màn giao đấu được hé lộ liên tục, khiến tác phẩm trở thành một trong những phim Việt được chờ đợi trong dịp lễ Quốc khánh.
Việc một nhà sản xuất tư nhân "chịu chi", đầu tư lớn cho đề tài huyền sử cũng tạo nên sự tò mò. Nhiều khán giả kỳ vọng Hộ linh tráng sĩ sẽ mang đến một diện mạo mới cho phim cổ trang Việt, đồng thời mở ra cơ hội cho những tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử được thực hiện với quy mô lớn hơn.

Tuấn Trần và Trần Thiên Tú đảm nhận vai chính trong phim (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Tuy nhiên, sau khi ra rạp dịp lễ 2/9, bộ phim không tạo được hiệu ứng tương xứng với những kỳ vọng trước đó. Khán giả đánh giá tích cực đối với phần bối cảnh hoành tráng, phục trang được đầu tư tỉ mỉ, các cảnh hành động mãn nhãn, song kịch bản, lời thoại, cách xây dựng nhân vật nhận nhiều phản hồi tiêu cực.
Bản phim ban đầu dài 155 phút bị nhận xét ôm đồm nhiều tuyến nội dung, tiết tấu chậm và có những tình tiết chưa được giải thích thuyết phục. Tuyến tình cảm giữa hai nhân vật chính An Nhiên (Trần Thiên Tú) và Nguyên Phong (Tuấn Trần) gây ý kiến trái chiều khi chiếm thời lượng đáng kể nhưng không đủ sức nặng đẩy cảm xúc lên cao cho người xem. Một bộ phận khán giả cho rằng câu chuyện 7 tráng sĩ chưa được khắc họa đủ rõ về tính cách và động cơ, khiến những mất mát, hy sinh trong phim chưa tạo được sức nặng như mong đợi.
Trước những phản hồi sau suất chiếu sớm, ê-kíp gấp rút đưa ra bản dựng mới dài 135 phút, cắt khoảng 20 phút so với phiên bản ban đầu, với sự bắt tay hợp tác của đạo diễn Hàm Trần. Đây là động thái hiếm gặp tại phòng vé Việt, khi một bộ phim vừa phát hành đã thay đổi đáng kể thời lượng. Phiên bản chỉnh sửa nhận về một số phản hồi tích cực hơn, nhưng cũng chưa tạo được bước ngoặt đáng kể về hiệu ứng truyền miệng cũng như sức bán vé.
Theo số liệu của Box Office Vietnam, tính đến 9/9, phim chỉ thu về 35 tỷ đồng. Hộ linh tráng sĩ gần như bị lép vế trước các phim ra rạp cùng thời điểm như Quý tử vượt giàu, Nghỉ hè sợ nghỉ hưu...
Hiện tại, tác phẩm của Nguyễn Phan Quang Bình chỉ đạt khoảng 1.000 suất chiếu mỗi ngày, tỷ lệ lấp đầy rạp khiêm tốn. Trong những ngày cao điểm của kỳ nghỉ, tác phẩm từng có hơn 1.500 suất chiếu mỗi ngày, nhưng hiệu suất bán vé thấp hơn nhiều đối thủ.
Khi sức bán vé không được cải thiện, số suất chiếu giảm dần, khả năng bứt phá doanh thu của phim lại càng thu hẹp. Doanh thu 35 tỷ đồng được xem là con số khá khiêm tốn so với mức kinh phí khoảng 100 tỷ đồng và mục tiêu phải đạt 200 tỷ đồng doanh thu phòng vé để hòa vốn.
Từ vị thế một dự án được kỳ vọng trở thành điểm nhấn của mùa phim dịp lễ 2/9, thậm chí là "bom tấn" của điện ảnh Việt năm nay, song Hộ linh tráng sĩ đang đứng trước nguy cơ thua lỗ lớn. Khoảng cách giữa quy mô đầu tư, kỳ vọng trước ngày ra mắt và kết quả phòng vé đặt ra câu hỏi: Vì sao một bộ phim có đề tài hấp dẫn, dàn diễn viên tên tuổi và phần hình ảnh được đầu tư công phu vẫn không thể chinh phục số đông khán giả?
Vì sao tác phẩm quy mô trăm tỷ đồng trở thành “bom xịt”?
Trao đổi với phóng viên Dân trí, nhà phê bình Nguyễn Phong Việt cho rằng nguyên nhân quan trọng khiến Hộ linh tráng sĩ thất bại tại phòng vé nằm ở khoảng cách quá lớn giữa kỳ vọng được tạo ra trước ngày công chiếu và trải nghiệm thực tế của khán giả.
“Nhà sản xuất đặt mục tiêu lớn và khán giả cũng bước vào rạp với kỳ vọng lớn. Người xem không nhìn nhận đây chỉ là một bộ phim giải trí thông thường mà còn chờ đợi một tác phẩm có quy mô sản xuất lớn, kỳ vọng khả năng mở ra diện mạo mới cho dòng phim huyền sử Việt. Tuy nhiên, kỳ vọng của nhà sản xuất và điều khán giả nhận được đã không đi đến một điểm chung”, ông Việt nhận định.
Theo nhà phê bình, Hộ linh tráng sĩ có điểm trừ lớn về nội dung khi chưa tạo được thông điệp nhất quán. Bộ phim cùng lúc theo đuổi nhiều tuyến nội dung, từ nhiệm vụ bảo vệ linh cữu vua, cuộc đối đầu giữa các thế lực đến tình yêu nam nữ, lòng trung nghĩa và sự hy sinh của các nhân vật. Tuy nhiên, những lớp chuyện này chưa được liên kết thành một tổng thể liền mạch, khiến một bộ phận người xem khó xác định thông điệp trung tâm mà tác phẩm muốn hướng tới.
“Phim có nhiều tham vọng nhưng cách kể còn dàn trải. Tuyến tình cảm được phát triển từ chi tiết sợi dây chuyền của Nguyên Phong, nhưng chưa đủ sâu để nâng cảm xúc của khán giả. Theo tôi, tác phẩm sẽ thuyết phục hơn nếu tập trung sâu vào lý tưởng của những con người sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì đại cuộc và vận mệnh quốc gia”, ông Việt phân tích.

Diễn viên Johnny Trí Nguyễn đảm nhận vai trò đạo diễn hành động của bộ phim (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Nhà phê bình cũng chỉ ra những hạn chế về lời thoại, diễn biến tâm lý và tính hợp lý của một số tình tiết. Khi câu chuyện không đủ sức cuốn người xem, khán giả bắt đầu chú ý nhiều hơn đến những lỗ hổng trong kịch bản. Những nhận xét về lời thoại khiên cưỡng, thiếu cảm xúc hay hành động của nhân vật chưa thuyết phục vì thế xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội.
Theo chuyên gia, bối cảnh, phục trang, đạo cụ, thiết kế mỹ thuật, các cảnh hành động và dàn sao đã tạo nên phần nhìn quy mô cho tác phẩm. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là “lớp áo” bên ngoài.
“Yếu tố quyết định vẫn là câu chuyện có khiến khán giả tin và rung động hay không. Hộ linh tráng sĩ có hình ảnh chỉn chu, bối cảnh hoành tráng, nhưng câu chuyện chưa tạo được niềm tin và cảm xúc tương xứng. Khi người xem không tin vào hành trình của nhân vật, sự đầu tư về hình thức cũng khó phát huy hết giá trị.
Việc cắt 20 phút có thể giúp nhịp phim gọn hơn, nhưng những vấn đề về đường dây câu chuyện, lời thoại, tâm lý và động cơ nhân vật rất khó chỉnh sửa khi phim đã hoàn thành. Quan trọng hơn, phản ứng của số đông khán giả đã hình thành. Khi hiệu ứng truyền miệng bất lợi lan rộng, rất khó có một chiến dịch đủ sức đảo ngược tình thế”, ông Việt nhận xét.

Nhiều ý kiến cho rằng phim được đầu tư phục trang, bối cảnh hoành tráng, nhưng kịch bản và cách kể chuyện có nhiều lỗ hổng (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Ở góc nhìn khác, chuyên gia phê bình phim Tuấn Lalarme cho rằng Hộ linh tráng sĩ không thiếu sức lan tỏa. Ngược lại, lượng thảo luận lớn trước và sau khi công chiếu cho thấy khán giả thực sự quan tâm tới một dự án điện ảnh khai thác chất liệu huyền sử Việt Nam.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự thật rằng, sự quan tâm của khán giả chưa được chuyển hóa thành doanh thu tương xứng với sự đầu từ của ê-kíp. Những luồng đánh giá quá khác biệt, thậm chí đối lập trên mạng xã hội khiến một bộ phận khán giả hoang mang khi cân nhắc mua vé. Trong bối cảnh người xem ngày càng có xu hướng tham khảo nhận xét trước khi ra rạp, hiệu ứng truyền miệng trái chiều đã ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn của họ.
“Sức lan tỏa của phim thực tế rất tốt. Khán giả quan tâm và muốn biết một dự án huyền sử Việt Nam được đầu tư quy mô sẽ được thể hiện như thế nào. Nhưng những bình luận trái chiều xuất hiện quá nhiều đã khiến một bộ phận người xem do dự. Sự hoang mang ấy phần lớn bắt nguồn từ việc kịch bản chưa đủ tốt, chưa tạo được chiều sâu để khán giả nhớ tới câu chuyện và nhân vật”, chuyên gia Tuấn Lalarme đánh giá.
Theo ông Tuấn, một bộ phim có thể được bàn luận nhiều nhưng chưa chắc tạo ra sức hút tích cực. Sự lan tỏa chỉ hỗ trợ phòng vé khi người xem sau suất chiếu đầu tiên sẵn sàng giới thiệu tác phẩm cho người khác. Với Hộ linh tráng sĩ, lượng thảo luận lớn lại tập trung đáng kể vào những hạn chế, khiến sự tò mò ban đầu không đủ chuyển thành quyết định mua vé.
Dù vậy, chuyên gia không cho rằng kết quả của Hộ linh tráng sĩ là cơ sở để kết luận khán giả Việt chưa mặn mà với phim cổ trang, huyền sử.
“Tôi nghĩ khán giả rất quan tâm đến phim huyền sử. Đây là đề tài còn thiếu trên thị trường và chưa có nhiều đơn vị khai thác. Vấn đề không phải công chúng thờ ơ, mà chúng ta chưa có một dự án đủ tốt để kéo số đông khán giả ra rạp”, ông nói.
Nhìn từ thất bại phòng vé của Hộ linh tráng sĩ, các chuyên gia đều rằng bài học quan trọng nhất đối với những dự án quy mô lớn vẫn nằm ở kịch bản. Bên cạnh đó, đây cũng là một kinh nghiệm để các dự án lớn tham khảo về khâu chiếu thử, kiểm soát chất lượng thành phẩm và chiến lược truyền thông, "quản trị kỳ vọng" trước khi phát hành. Khi mức kinh phí, quy mô sản xuất và danh xưng “bom tấn” trở thành thông điệp quảng bá chủ đạo, tác phẩm cũng phải đối diện với tiêu chuẩn đánh giá cao tương ứng.
Mất trắng trăm tỷ đồng: Ai còn dám đầu tư phim huyền sử?
Phim điện ảnh khai thác yếu tố lịch sử, dã sử luôn là mảng đề tài nhiều thách thức đối với các nhà sản xuất Việt Nam. Không chỉ đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, dòng phim này còn đặt ra yêu cầu khắt khe về nghiên cứu tư liệu, xây dựng kịch bản, phục dựng bối cảnh, trang phục, đạo cụ và dung hòa giữa tính chính xác với nhu cầu thưởng thức của khán giả đương đại.
Khoảng 15 năm trở lại đây, một số tác phẩm đáng chú ý có thể kể đến Long thành cầm giả ca, Khát vọng Thăng Long, Thiên mệnh anh hùng, Mỹ nhân, Tấm Cám: Chuyện chưa kể, Kiều... Ở mảng lịch sử cách mạng, chiến tranh, điện ảnh Việt cũng có những tác phẩm như Đừng đốt, Những người viết huyền thoại, Đào, phở và piano, Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, Mưa đỏ... Tuy nhiên, số phim tạo được dấu ấn đồng thời về chuyên môn, sức lan tỏa và doanh thu phòng vé vẫn chưa nhiều.
Trong bối cảnh này, việc Hộ linh tráng sĩ đối diện khả năng thua lỗ tiếp tục cho thấy mức độ rủi ro của những dự án huyền sử quy mô lớn, đặc biệt khi chưa có thị trường ổn định.


Ê-kíp tốn nhiều công sức trong việc tái hiện không gian, các yếu tố văn hóa của người Việt cách đây 1.000 năm (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Nhà phê bình Nguyễn Phong Việt dự đoán, doanh thu cuối cùng của Hộ linh tráng sĩ khoảng 40 tỷ đồng.
“Nếu phim thu khoảng 40 tỷ đồng, hệ thống rạp và các bên liên quan có thể giữ khoảng 25 tỷ đồng. Phần thực tế trở lại nhà sản xuất chỉ còn hơn 10 tỷ đồng, chưa chắc đủ bù chi phí truyền thông. Như vậy, gần như toàn bộ kinh phí sản xuất khoảng 100 tỷ đồng đứng trước nguy cơ không thể thu hồi”, ông Việt phân tích.
Tuy nhiên, kết quả của Hộ linh tráng sĩ chưa đến mức khiến những người muốn làm phim lịch sử chùn bước. Các nhà sản xuất chắc chắn phải tính toán kỹ hơn về mức đầu tư, chất lượng kịch bản và sức hấp thụ thực tế của thị trường.
"Điện ảnh Việt hiện chưa đủ sức đón nhận thường xuyên những dự án có kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Sau trường hợp này, thị trường có thể trở lại với những bộ phim được đầu tư ở mức 40-50 tỷ đồng, thay vì đặt cược quá lớn vào một tác phẩm chưa được kiểm chứng về khả năng thương mại.
Thị trường phim Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng. Nhưng nhà làm phim sẽ thận trọng hơn và không dễ dàng tin rằng cứ có hình ảnh hoành tráng, bối cảnh lớn hay ngôi sao phòng vé thì tác phẩm sẽ thành công”, ông Việt nhận xét.
Chuyên gia Tuấn Lalarme nhận định thêm, xét về xu hướng, lịch sử Việt Nam vẫn là một "miếng bánh" giàu tiềm năng để các đơn vị sản xuất tìm kiếm chất liệu. Vấn đề không phải khán giả thờ ơ với đề tài này, mà nhà làm phim cần tìm được cách chuyển hóa chất liệu từ quá khứ thành câu chuyện điện ảnh hấp dẫn, gần gũi và đủ sức thuyết phục số đông.

Một buổi giao lưu của đoàn phim tại rạp (Ảnh: Đoàn phim cung cấp).
Trao đổi với phóng viên Dân trí, bà Ngô Thị Bích Hạnh - đại diện nhà sản xuất Hộ linh tráng sĩ - cho biết, kết quả phòng vé hiện còn khiêm tốn, song đoàn phim tin rằng việc khai thác văn hóa, lịch sử và di sản bằng điện ảnh không thể chỉ được đánh giá trong ngắn hạn.
“Mọi thứ diễn ra như một cơn bão nên đến lúc này, tôi vẫn chưa có đủ thời gian để ngồi lại và nhìn nhận toàn bộ bài học. Tôi nghĩ Hộ linh tráng sĩ có thể trở thành một trường hợp để những người làm phim có yếu tố lịch sử cùng nghiên cứu, rút kinh nghiệm.
Đây là dự án chúng tôi theo đuổi suốt nhiều năm. Làm về văn hóa, di sản không thể nóng vội, bởi những dữ liệu lịch sử đã đi qua nhiều lớp trước khi đến tay người làm phim. Muốn chuyển hóa những chất liệu ấy lên màn ảnh, chúng tôi phải kiên nhẫn, bình tĩnh và xác định đây là một hành trình lâu dài”, bà Hạnh chia sẻ.
Theo bà Bích Hạnh, khi một bộ phim hoàn thành và ra rạp, tác phẩm không còn thuộc về riêng ê-kíp mà đã bước vào đời sống công chúng. Nhà sản xuất có thể yêu quý và tin tưởng “đứa con tinh thần” của mình, nhưng không thể quyết định cách khán giả tiếp nhận nó.
“Khi phim ra khỏi vòng tay của người làm phim, tác phẩm thuộc về khán giả. Sẽ có người yêu thích, cũng có người không đồng tình, bởi điện ảnh là quyền cảm nhận của mỗi người. Số phận của bộ phim do công chúng quyết định”, bà Hạnh nói.
Nhà sản xuất cũng cho biết ê-kíp chưa từng chủ động giới thiệu Hộ linh tráng sĩ là bộ phim có kinh phí cao nhất lịch sử điện ảnh Việt. Theo đó, cảm nhận về quy mô của dự án không chỉ đến từ tiền bạc mà còn được tạo nên bởi công sức, tâm huyết và sự chung tay của nhiều cá nhân, đơn vị trong suốt quá trình thực hiện. Song, bà Hạnh nhấn mạnh, công sức hay những khó khăn trong quá trình thực hiện không thể trở thành lý do để yêu cầu khán giả "giải cứu", ra rạp mua vé.
“Một tác phẩm điện ảnh không thể kêu gọi lòng thương. Điều chúng tôi có thể làm là nỗ lực hết sức với lựa chọn của mình, sau đó tôn trọng sự cảm nhận và đánh giá của công chúng. Dù phim được đón nhận theo cách nào, chúng tôi vẫn mong muốn giới thiệu những giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam bằng ngôn ngữ điện ảnh”, bà Bích Hạnh bày tỏ.