Bỏ qua điều hướng
•

Hỗ trợ chi phí đào tạo cần gắn với cam kết sử dụng lao động và kết quả đầu ra

Hỗ trợ chi phí đào tạo cần gắn với cam kết sử dụng lao động và kết quả đầu ra
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Cho ý kiến về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Quốc hội lưu ý việc hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực cần gắn với cam kết sử dụng lao động và kết quả đầu ra; định hướng vào các ngành, nghề giúp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hoặc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi ...

Bảo đảm chính sách hỗ trợ mang lại hiệu quả thực chất

Sáng 24/10, tham gia thảo luận tại tổ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Trần Văn Khải (Đoàn Ninh Bình) đồng tình với việc bổ sung các quy định hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực nhằm thu hút đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao và phát triển chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng xác định rõ tiêu chí chất lượng đào tạo, đối tượng thụ hưởng và trách nhiệm ngân sách, bảo đảm chính sách hỗ trợ mang lại hiệu quả thực chất.

Về chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực tại điểm a khoản 7 Điều 17, đại biểu Khải đề nghị bổ sung tiêu chí bảo đảm các cơ sở liên kết đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định chất lượng theo pháp luật về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp.

Việc hỗ trợ cần tập trung vào các ngành, nghề thuộc lĩnh vực công nghệ cao hoặc phục vụ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; đồng thời, làm rõ nguồn ngân sách thực hiện là ngân sách trung ương hay ngân sách địa phương.

39c33d56897909275068.jpg
Đại biểu Trần Văn Khải (Đoàn Ninh Bình).

Đối với Điều 17a về chính sách hỗ trợ đào tạo lao động trong cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương, đại biểu đề nghị tiếp tục nghiên cứu, làm rõ đối tượng lao động được hỗ trợ đào tạo là người lao động tại địa phương, người lao động do doanh nghiệp đưa đến hay kết hợp cả hai nhóm, bảo đảm phù hợp với việc sử dụng ngân sách địa phương.

Đặc biệt, đại biểu lưu ý việc hỗ trợ đào tạo cần gắn với cam kết sử dụng lao động và kết quả đầu ra, bảo đảm lợi ích thực tế từ nguồn ngân sách hỗ trợ được thể hiện qua việc sử dụng nguồn nhân lực tại địa phương. Chính sách cũng cần được định hướng vào các ngành, nghề giúp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hoặc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, tránh dàn trải nguồn lực ngân sách cho hoạt động đào tạo lao động phổ thông.

"Việc làm rõ các tiêu chí, đối tượng và điều kiện hỗ trợ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực thực sự phục vụ mục tiêu thu hút đầu tư và phát triển năng lực của doanh nghiệp trong nước", đại biểu Trần Văn Khải nói.

Về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) cho rằng, không chỉ căn cứ vào tỷ lệ số lượng doanh nghiệp tham gia, mà phải chú trọng chất lượng và hiệu quả liên kết thực chất.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 8 Điều 17 nguyên tắc: việc xác định mức hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng phải căn cứ vào kết quả nâng cao năng lực thực tế, có thể kiểm chứng của doanh nghiệp trong nước; đồng thời, phải phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo đại biểu Thế, mục tiêu cuối cùng của chính sách không phải là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trong danh sách nhà cung ứng, mà là có bao nhiêu doanh nghiệp thực sự nâng cao được năng lực công nghệ, năng lực sản xuất và vị trí trong chuỗi giá trị.

Gỡ vướng mắc về chấm dứt dự án và chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở, khu đô thị

Liên quan việc chấm dứt hợp đồng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 36, dự thảo Luật quy định: cơ quan đăng ký đầu tư chấm dứt hoạt động dự án sau 24 tháng kể từ thời điểm kết thúc tiến độ thực hiện mục tiêu mà nhà đầu tư vẫn không hoàn thành và không thuộc trường hợp được điều chỉnh tiến độ.

Đại biểu Trần Thị Hiền (Đoàn Ninh Bình) nêu thực tế triển khai cho thấy, nhiều dự án bị chậm tiến độ xuất phát từ nguyên nhân khách quan từ phía cơ quan nhà nước (chậm giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, điều chỉnh quy hoạch chung...).

Việc áp dụng mốc 24 tháng mang tính cứng nhắc mà thiếu quy tắc rõ ràng về phân định trách nhiệm chậm trễ từ phía chính quyền sẽ gây rủi ro pháp lý, dễ phát sinh tranh chấp hành chính hoặc khiếu kiện quốc tế, thiệt hại quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư tuân thủ.

2aobor7hvw9k0qf8u0lgrp0wl4qittn8pbb2p4ng.jpg
Đại biểu Trần Thị Hiền (Đoàn Ninh Bình).

Do vậy, đại biểu đề nghị sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 36 về chấm dứt hoạt động dự án theo hướng: chấm dứt dự án sau 24 tháng kể từ thời điểm kết thúc tiến độ mục tiêu mà không hoàn thành. Trường hợp dự án chậm tiến độ do nguyên nhân chậm trễ từ phía cơ quan Nhà nước trong giải phóng mặt bằng, bàn giao đất hoặc thủ tục hành chính liên quan thì thời gian này không tính vào thời hạn 24 tháng xem xét chấm dứt.

Về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở, khu đô thị đã có quyền sử dụng đất (khoản 11 Điều 24), dự thảo Luật quy định: bắt buộc mọi dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, kể cả trường hợp nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc thông qua thỏa thuận.

Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định này chưa đồng bộ với tinh thần cải cách hành chính và tháo gỡ vướng mắc cho thị trường bất động sản. Việc buộc các dự án đã có sẵn đất sạch hoặc quyền sử dụng đất hợp pháp phải đi qua thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư từ đầu làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian triển khai, tạo sự chồng chéo với trình tự giao đất/chuyển mục đích sử dụng đất theo Luật Đất đai và Luật Nhà ở.

Từ phân tích trên, đại biểu Hiền đề nghị sửa đổi theo hướng: cắt giảm thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án nhà ở thương mại, khu đô thị quy mô nhỏ/vừa mà nhà đầu tư đã có quyền sử dụng đất hợp pháp phù hợp với quy hoạch đã phê duyệt.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI

Hỗ trợ chi phí đào tạo cần gắn với cam kết sử dụng lao động và kết quả đầu ra

Chủ tịch Quốc hội: Cắt giảm thủ tục, không cắt giảm trách nhiệm bảo vệ môi trường

Tây Ninh chủ động đối ngoại, mở rộng không gian phát triển

VĂN TOẢN

Thảo luận tại tổ về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư sáng 24/10, đại biểu Quốc hội đoàn Ninh Bình nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thiện các tiêu chí hỗ trợ đào tạo nhân lực và phát triển chuỗi cung ứng. Đại biểu Trần Văn Khải đề nghị việc dùng ngân sách hỗ trợ chi phí đào tạo tại điểm a khoản 7 Điều 17 phải gắn liền với chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao thay vì dàn trải cho lao động phổ thông. Đối với cơ chế đặc thù tại Điều 17a, đại biểu Khải lưu ý chính sách đào tạo của địa phương cần xác định rành mạch đối tượng thụ hưởng và phân định trách nhiệm giữa ngân sách trung ương với địa phương. Đặc biệt, việc hỗ trợ ngân sách phải đi kèm cam kết sử dụng lao động cùng kết quả đầu ra cụ thể nhằm đảm bảo lợi ích thiết thực cho nguồn nhân lực tại chỗ. Việc siết chặt điều kiện này sẽ giúp nguồn lực công được sử dụng đúng trọng tâm, thực sự phục vụ mục tiêu thu hút đầu tư chất lượng cao. Đồng quan điểm về hiệu quả thực chất, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định mức hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng tại khoản 8 Điều 17 dựa trên kết quả nâng cao năng lực có thể kiểm chứng. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ nhìn vào số lượng doanh nghiệp tham gia, mà cần đánh giá mức độ cải thiện năng lực công nghệ và năng lực sản xuất thực tế. Đây là cơ sở cốt lõi để doanh nghiệp trong nước nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời bảo đảm tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
amung