Bỏ qua điều hướng
•

Hoàn thiện bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương trong quản lý an toàn thực phẩm

Hoàn thiện bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương trong quản lý an toàn thực phẩm
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Với mục tiêu, hoàn thiện thể chế; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; kiến tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch; nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe nhân dân... Đây là những điểm mới, điểm quan trọng được đề cập trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Sửa Luật An toàn thực phẩ...

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã trình bày tóm tắt dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) để các đại biểu Quốc hội trao đổi, góp ý, thảo luận và thông qua tại kỳ họp lần này.

Việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm tập trung vào tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, phù hợp thông lệ quốc tế; bảo đảm các quy định, thủ tục hành chính đơn giản, giảm gánh nặng tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Trong đó, hướng tới phương thức quản lý chủ động hơn, dựa trên nguy cơ, dữ liệu và trách nhiệm: “Từ kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, phân loại thực phẩm và đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát, đến xây dựng hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông và nâng cao quản lý thức ăn đường phố, suất ăn tập thể”.

Theo Bộ Y tế, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) lần này có những điểm mới chính là luật thể chế hóa bốn chính sách Chính phủ đã thông qua tại Nghị quyết số 184/NQ-CP về an toàn thực phẩm, gồm: quản lý theo nguy cơ trên chuỗi cung ứng; cải cách cơ chế kiểm tra trên thị trường; số hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông; nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể.

Tiếp đến, Luật đã phân loại nguy cơ về an toàn thực phẩm theo hai mức: nguy cơ cao, nguy cơ thấp; kết quả đánh giá nguy cơ về an toàn thực phẩm là cơ sở để quyết định áp dụng hoặc điều chỉnh các biện pháp quản lý an toàn thực phẩm bao gồm: xây dựng, ban hành quy định kỹ thuật về an toàn thực phẩm (quy định về đặc tính kỹ thuật, mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật mà thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, hương liệu thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp thực phẩm hoặc bộ nguyên tắc, tiêu chuẩn mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng để bảo đảm an toàn, sức khỏe con người); kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm; biện pháp hậu kiểm đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Dự thảo Luật cũng đã quy định nội dung về hậu kiểm riêng; trong đó quy định đối tượng, nguyên tắc, biện pháp hậu kiểm cũng như trách nhiệm của đoàn kiểm tra, tần suất kiểm tra trên thị trường. Theo đó, căn cứ kết quả đánh giá nguy cơ, dữ liệu kết quả thử nghiệm, thông tin về sự cố mất an toàn thực phẩm, kết quả giám sát, lịch sử tuân thủ quy định an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm qua các cuộc thanh tra, kiểm tra trước đó hoặc có dấu hiệu vi phạm về an toàn thực phẩm để lựa chọn tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, sản phẩm thực phẩm để hậu kiểm.

Đồng thời, dự thảo Luật đã quy định các biện pháp để tăng hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật thông qua việc giám sát thị trường, thu hồi giấy đăng ký bản công bố sản phẩm, gỡ bỏ hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn; quy định các tổ chức thử nghiệm của nhà nước thực hiện việc lấy mẫu trên thị trường để cùng tham gia giám sát với cơ quan chức năng; khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng, nhân dân tham gia giám sát doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Về cải cách phương thức quản lý sản phẩm, dự thảo Luật An toàn thực phẩm đã chuyển mạnh tư duy quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Trong đó, hầu hết thực phẩm áp dụng quy định công bố tiêu chuẩn sản phẩm và tổ chức, cá nhân sẽ được sản xuất, lưu hành thực phẩm ngay sau khi nộp hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm theo đúng quy định.

Đáng chú ý, chỉ một số nhóm thực phẩm đăng ký bản công bố sản phẩm như sản phẩm dinh dưỡng dùng cho chế độ ăn đặc biệt có công bố khuyến cáo về sức khỏe; khuyến cáo sử dụng cho các đối tượng dễ tổn thương như người cao tuổi, trẻ em dưới 36 tháng tuổi, phụ nữ có thai; thực phẩm có tác dụng duy trì, tăng cường, cải thiện các chức năng của cơ thể con người, giảm nguy cơ mắc bệnh; dùng để điều chỉnh chế độ ăn của người bệnh và có sự giám sát y tế.

Ngoài ra, miễn đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm đối với thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, hương liệu thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, dụng cụ, vật liệu, bao bì tiếp xúc trực tiếp thực phẩm không lưu thông trên thị trường hoặc dùng để sản xuất thực phẩm đã được cấp giấy đăng ký bản công bố hoặc công bố tiêu chuẩn sản phẩm, thực phẩm tươi sống, nguyên liệu tươi sống làm thực phẩm, thực phẩm sơ chế chưa bao gói, thực phẩm sau khi được chế biến trong kinh doanh thức ăn đường phố, sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thực phẩm tại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và các nguyên liệu làm thực phẩm theo quy định của Chính phủ.

Không những vậy, Luật cũng bổ sung quy định về hình thức kinh doanh thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử, nền tảng số; hình thức giao đồ ăn trực tuyến; các loại hình tổ chức bếp ăn tập thể không vì mục đích kinh doanh, bếp ăn tập thể trong lực lượng quân đội, công an.

Riêng đối với việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) quy định rõ việc xây dựng Hệ thống thông tin dữ liệu về an toàn thực phẩm; cơ sở dữ liệu thông tin an toàn thực phẩm được quản lý tập trung, thống nhất. Trong đó, Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu toàn ngành an toàn thực phẩm; kết nối, chia sẻ thống nhất với hệ thống thông tin, dữ liệu của Ủy ban nhân dân các cấp và các bộ, ngành.

Bộ Y tế cho biết thêm, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) lần này, là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương. Cụ thể, Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Các Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Công thương, Tài chính, Công an, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ quản lý chuyên ngành theo phạm vi quản lý.

Trong khi đó, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương theo hướng thống nhất một đầu mối tại mỗi cấp. Đặc biệt, hướng tới phân cấp, phân quyền tối đa cho Ủy ban nhân dân các cấp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm nhằm phòng ngừa, kịp thời đáp ứng với sự cố an toàn thực phẩm.

attp-trung-hoc.jpg
Kiểm tra công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tại bếp ăn bán trú Trường tiểu học Tràng An (phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội). (Ảnh: THU QUỲNH)

Mặt khác, dự thảo Luật cũng đã quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với bếp ăn tập thể, thức ăn đường phố; quy định, nghĩa vụ cam kết sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo đảm an toàn đối với các tổ chức, cá nhân cung cấp suất ăn tập thể, tổ chức bếp ăn tập thể và kinh doanh thức ăn đường phố. Đồng thời, dự thảo Luật quy định cụ thể trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân xã trong trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm trên địa bàn, nhất là thức ăn đường phố, cơ sở cung cấp suất ăn tập thể.

Đáng chú ý, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền tiếp tục phân cấp, ủy quyền cho các cơ quan chuyên môn cấp dưới (sở, ngành, ủy ban nhân dân cấp xã) dựa trên năng lực thực tế, đặc thù địa bàn và yêu cầu quản lý của từng địa phương. Việc cho phép phân cấp linh hoạt này giúp tránh tình trạng dồn ứ thủ tục hành chính tại cấp tỉnh, giúp các địa phương quản lý sát sao và xử lý các sự cố về an toàn thực phẩm nhanh chóng hơn.

KHÁNH HUY

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Bộ Y tế đã thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày tóm tắt dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và cắt giảm thủ tục hành chính. Dự thảo luật chính thức thể chế hóa bốn chính sách lớn theo Nghị quyết số 184/NQ-CP, bao gồm quản lý theo nguy cơ trên chuỗi cung ứng, cải cách cơ chế kiểm tra thị trường, số hóa dữ liệu quốc gia liên thông và nâng cao quản lý thức ăn đường phố cùng bếp ăn tập thể. Điểm đổi mới căn bản của dự thảo là bước chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên việc phân loại nguy cơ thực phẩm theo hai cấp độ cao và thấp. Kết quả đánh giá rủi ro kết hợp với lịch sử tuân thủ pháp luật và dữ liệu thử nghiệm sẽ là căn cứ trọng yếu để cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc cũng như kiểm tra thực phẩm nhập khẩu. Nhằm bảo đảm tính răn đe và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, dự thảo luật xây dựng một chương riêng quy định chặt chẽ về quy trình, tần suất và trách nhiệm trong công tác hậu kiểm. Cơ quan chức năng được trao quyền áp dụng các biện pháp quyết liệt như thu hồi giấy đăng ký bản công bố sản phẩm, gỡ bỏ hồ sơ tiêu chuẩn và thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đối với các đơn vị vi phạm.
amung