Bỏ qua điều hướng

Hoàn thiện khung pháp lý quy định về hợp tác, liên kết với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục

Hoàn thiện khung pháp lý quy định về hợp tác, liên kết với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến quy định ba hình thức liên kết giáo dục: thực hiện chương trình giáo dục của Việt Nam; thực hiện chương trình giáo dục tích hợp giữa chương trình của Việt Nam và chương trình nước ngoài; thực hiện chương trình giáo dục của ...

Mở rộng và hoàn thiện khung pháp lý các hình thức hợp tác, liên kết, đầu tư trong giáo dục

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục để lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW và các chủ trương liên quan của Đảng, bảo đảm thống nhất với pháp luật mới. Đồng thời, tạo thuận lợi cho hợp tác, đầu tư quốc tế thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, phân cấp, phân quyền và tăng cường hậu kiểm, gắn với bảo đảm chất lượng giáo dục và quyền lợi người học.

Dự thảo Nghị định khi ban hành sẽ thay thế Nghị định số 86/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2024/NĐ-CP.

Dự thảo Nghị định mở rộng và hoàn thiện khung pháp lý đối với các hình thức hợp tác, liên kết với nước ngoài ở các cấp học, trình độ đào tạo.

Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, dự thảo quy định ba hình thức liên kết giáo dục gồm: Thực hiện chương trình giáo dục của Việt Nam nhằm đạt mục tiêu cao hơn về chất lượng; thực hiện chương trình giáo dục tích hợp giữa chương trình của Việt Nam và chương trình nước ngoài; thực hiện chương trình giáo dục của nước ngoài.

Trong đó, hoạt động liên kết tại cơ sở giáo dục công lập không được ảnh hưởng đến nhiệm vụ giáo dục được giao, quyền học tập của học sinh và việc thực hiện giáo dục bắt buộc; không được sử dụng hoạt động liên kết để thay thế hoặc hạn chế việc thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc.

Đối với chương trình giáo dục tích hợp, dự thảo quy định Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định, phê duyệt trước khi thực hiện. Chương trình đã được một Sở Giáo dục và Đào tạo phê duyệt có thể được cơ sở giáo dục khác sử dụng mà không phải thẩm định, phê duyệt lại nếu không thay đổi nội dung chương trình.

Dự thảo đề xuất cho phép học sinh là công dân Việt Nam học chương trình giáo dục của nước ngoài ở cấp trung học phổ thông tại các cơ sở giáo dục thuộc đối tượng được phép, không quy định giới hạn tỷ lệ học sinh Việt Nam theo học. Học sinh Việt Nam phải học các môn học bắt buộc theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức chương trình phải bảo đảm mục tiêu giáo dục của Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của người học và khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục.

Đối với giáo dục đại học, dự thảo quy định ba hình thức liên kết gồm: Liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm; phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam.

Đối với giáo dục nghề nghiệp, dự thảo quy định hai hình thức liên kết gồm: Liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập khoa, trung tâm, đơn vị chuyên môn.

Đối với văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, Dự thảo chuyển trọng tâm quản lý sang công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm, đồng thời xác định rõ phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện.

Dự thảo cũng bổ sung khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động hợp tác, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Tăng tự chủ cho cơ sở giáo dục, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, định hướng xuyên suốt của dự thảo là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục gắn với công khai, trách nhiệm giải trình và quản lý trên cơ sở dữ liệu.

Đối với liên kết đào tạo với nước ngoài, dự thảo mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc xem xét, quyết định theo quy trình nội bộ; chỉ duy trì cơ chế phê duyệt trước đối với một số trường hợp cần tăng cường kiểm soát chất lượng theo quy định.

Đối với liên kết tổ chức thi, cấp chứng chỉ của nước ngoài, dự thảo chuyển từ cơ chế phê duyệt trước sang cơ chế tự chủ quyết định gắn với công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm; đồng thời tăng trách nhiệm của các bên về chất lượng, an toàn, bảo mật, phòng, chống gian lận và bảo vệ quyền lợi người dự thi.

Đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo không quy định lại các điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập và cho phép hoạt động đã được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư và các nghị định chuyên ngành.

Tăng cường công khai, trách nhiệm giải trình

Cùng với việc mở rộng quyền tự chủ và giảm thủ tục hành chính, dự thảo Nghị định tăng cường trách nhiệm của cơ sở giáo dục, nhà đầu tư và các bên tham gia hợp tác, liên kết trong việc công khai thông tin, cập nhật dữ liệu, báo cáo và giải trình.

Dự thảo bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ và phân loại rủi ro, làm căn cứ áp dụng mức độ kiểm tra, giám sát phù hợp. Trong đó, ưu tiên giám sát từ xa thông qua dữ liệu, thông tin công khai, báo cáo, phản ánh của người học, nhà giáo, người lao động và kết quả kiểm định chất lượng.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc đổi mới phương thức quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho hợp tác, đầu tư quốc tế trong giáo dục, đồng thời bảo đảm chất lượng giáo dục, quyền và lợi ích hợp pháp của người học, tính minh bạch và trách nhiệm của các chủ thể tham gia.

THANH XUÂN
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW và thay thế Nghị định số 86/2018/NĐ-CP cùng Nghị định số 124/2024/NĐ-CP. Văn bản pháp lý mới này tập trung mở rộng và hoàn thiện khung hành lang pháp lý đối với tất cả các cấp học từ mầm non, phổ thông đến đại học và giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu then chốt của dự thảo là đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển sang cơ chế quản lý tập trung vào hậu kiểm. Đối với mầm non và phổ thông, dự thảo xác định ba hình thức liên kết gồm thực hiện chương trình Việt Nam chất lượng cao, chương trình tích hợp và chương trình nước ngoài. Học sinh Việt Nam học chương trình nước ngoài ở cấp trung học phổ thông sẽ không bị giới hạn tỷ lệ, nhưng phải bảo đảm học đủ các môn học bắt buộc theo quy định. Hoạt động liên kết tại cơ sở công lập bắt buộc tuân thủ nguyên tắc không ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc và quyền lợi người học. Ở bậc giáo dục đại học, các hình thức hợp tác bao gồm liên kết đào tạo cấp văn bằng, thành lập viện nghiên cứu hay phân hiệu của trường đại học nước ngoài tại Việt Nam. Khối giáo dục nghề nghiệp tập trung vào hai hình thức chính là liên kết đào tạo và thành lập đơn vị chuyên môn. Bên cạnh đó, công tác quản lý các văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài được chuyển dịch mạnh mẽ sang hình thức công khai dữ liệu và tăng cường giám sát hậu kiểm.