
Đại diện Trường đại học Công nghệ TP.HCM giới thiệu về chương trình đào tạo sau đại học trong lễ khai giảng vào tháng 9-2026 - Ảnh: N.T.
Thống kê năm học 2025-2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy đào tạo sau đại học chiếm khoảng 7% trong tổng quy mô đào tạo. Khối ngành kinh doanh quản lý có số lượng người học áp đảo ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ.
Đại học: kỹ thuật công nghệ dẫn đầu

Cơ cấu các bậc trong tổng quy mô đào tạo năm 2025-2026 - Số liệu: Bộ GD-ĐT. Đồ họa: M.G.
Theo Báo cáo hội nghị giáo dục đại học 2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 20-8-2026 có 2.798.974 người đang học từ đại học đến tiến sĩ.
Trong đó gồm 2.595.831 người học đại học, 139.276 học viên thạc sĩ, và 63.867 nghiên cứu sinh. Quy mô sau đại học là 203.143 người, chiếm 7,26%.
Mặc dù vậy, số liệu thống kê quy mô đào tạo các bậc đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê trong báo cáo này lại có sự chênh lệch so với thông tin nêu trên. Số liệu sử dụng cho bài viết này trích xuất từ bảng thống kê quy mô đào tạo trong báo cáo.
Ở bậc đại học, khối ngành V (toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật, sản xuất và chế biến, kiến trúc và xây dựng, nông lâm và thủy sản, thú y) có quy mô người học lớn nhất với trên 750.000 sinh viên.

Quy mô đào tạo đại học 7 khối ngành năm học 2025-2026 - Số liệu: Bộ GD-ĐT. Đồ họa: M.G.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2026, số lượt ngành thuộc nhóm STEM và số thí sinh trúng tuyển tăng so với năm 2025.
Đối với nhóm ngành STEM, năm 2026 có 2.319 lượt ngành (tăng thêm 299 so với 2025) và 241.929 thí sinh trúng tuyển (tăng thêm 4.104), tại 208 cơ sở đào tạo. Máy tính và công nghệ thông tin giảm thí sinh dù tăng lượt ngành trong khi công nghệ kỹ thuật, kỹ thuật và kiến trúc - xây dựng cùng tăng.
Các lĩnh vực xây dựng, kỹ thuật then chốt, khoa học cơ bản là nhóm tăng nhanh nhất trong phạm vi chính sách học bổng. Nhóm ngành khoa học cơ bản tăng 37,1% về lượt ngành và 26,1% về số trúng tuyển.
Ngoài khối ngành V, khối ngành III (kinh doanh và quản lý, pháp luật) và VII (nhân văn, khoa học xã hội và hành vi, báo chí và thông tin, dịch vụ xã hội, khách sạn - du lịch - thể thao và dịch vụ cá nhân, dịch vụ vận tải, môi trường và bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng) có quy mô sinh viên trên 500.000 người.
Đáng chú ý là khối ngành khoa học sự sống, khoa học tự nhiên có quy mô sinh viên nhỏ nhất, thấp hơn cả khối nghệ thuật.
Thạc sĩ, tiến sĩ: kinh tế áp đảo
Trái ngược với bậc đại học, ở bậc sau đại học khối ngành công nghệ kỹ thuật không còn chiếm ưu thế. Thay vào đó, khối ngành kinh doanh quản lý và pháp luật có lượng học viên áp đảo các khối ngành còn lại. Công nghệ kỹ thuật rơi xuống vị trí thứ 3.
Ở bậc thạc sĩ, số lượng học viên khối ngành kinh doanh quản lý nhiều hơn 1,5 lần khối ngành xếp thứ 2 là nhân văn, khoa học xã hội, gần gấp đôi khối ngành công nghệ kỹ thuật.

Quy mô đào tạo thạc sĩ 7 khối ngành năm học 2025-2026 - Số liệu: Bộ GD-ĐT. Đồ họa: M.G.
Không chỉ có sự thay đổi ở khối ngành dẫn đầu, các khối ngành phía sau cũng có sự dịch chuyển đáng kể trong đào tạo sau đại học.
Nếu như ở bậc đại học, quy mô đào tạo khối ngành sức khỏe cao hơn sư phạm, nghệ thuật cao hơn khoa học sự sống thì ở bậc thạc sĩ, các vị trí này đều có sự hoán đổi.
Tương tự ở bậc tiến sĩ, sự chênh lệch giữa 3 khối ngành có học viên nhiều nhất không quá cách biệt như bậc thạc sĩ. Tuy nhiên kinh doanh quản lý vẫn có lượng học viên nhiều nhất, kế đến là nhân văn, khoa học xã hội. Khối ngành công nghệ kỹ thuật chỉ xếp thứ 3.

Quy mô đào tạo tiến sĩ 7 khối ngành năm học 2025-2026 - Số liệu: Bộ GD-ĐT. Đồ họa: M.G.
Khác với bậc thạc sĩ, ở bậc tiến sĩ người học khối ngành sức khỏe lại cao hơn khối ngành sư phạm. Các khối ngành nghệ thuật và khoa học sự sống có số lượng không đáng kể.
Như vậy có thể thấy càng lên bậc học cao hơn, chuyên sâu hơn, số lượng người theo học khối ngành kỹ thuật công nghệ càng giảm. Sự chênh lệch này ở bậc sau đại học có thể dẫn đến nhiều hệ quả trong đào tạo nhân lực chuyên sâu.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhóm ngành quản lý - kinh doanh phục vụ chiếm ưu thế trong cơ cấu đào tạo sau đại học. Cần dịch chuyển cơ cấu nguồn nhân lực khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Tính đến 31-7-2026, hệ thống đại học Việt Nam có gần 100.000 giảng viên, trong đó khoảng 31% giảng viên có trình độ tiến sĩ.