“Mỏ vàng” tỷ USD trong y tế
Theo công bố từ hệ thống nghiên cứu độc lập quốc tế - Global Market Insights, quy mô thị trường du lịch y tế toàn cầu sẽ ước đạt 84,5 tỷ USD trong năm 2026 và có thể lên gần 175 tỷ USD vào năm 2035, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân 8,4% mỗi năm.Trong đó, Châu Á - Thái Bình Dương là một trong những khu vực có thị trường lớn, nhờ lợi thế về chi phí, năng lực điều trị và sự phát triển nhanh của hệ thống y tế tư nhân.
Bên cạnh nhu cầu điều trị, tỷ lệ người bệnh trên khắp thế giới mong muốn được hưởng các dịch vụ đi kèm về hỗ trợ trước và sau can thiệp: từ tầm soát, phục hồi chức năng đến lưu trú và chăm sóc sức khỏe… ngày càng gia tăng. Chính vì vậy, dư địa tăng trưởng trong lĩnh vực điều trị kết hợp với nghỉ dưỡng, kéo dài thời gian lưu trú đang trở thành “mỏ vàng” lớn của ngành y tế và dịch vụ du lịch toàn cầu.
Tại Việt Nam, xu hướng này cũng đang được đặt ra ở cấp quản lý, điển hình Bộ Y tế tăng tốc xây dựng Đề án “Phát triển dịch vụ khám, chữa bệnh chất lượng cao và thúc đẩy du lịch y tế, thu hút người nước ngoài và người Việt Nam có khả năng chi trả giai đoạn 2025-2030”, định hướng phát triển các sản phẩm khám chữa bệnh chất lượng cao gắn với nhu cầu của khách quốc tế.
Một trong những hướng được đề xuất là thí điểm mô hình kết hợp bệnh viện - khách sạn - khu nghỉ dưỡng tại Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng, Quảng Ninh và Khánh Hòa. Cách tiếp cận này cho thấy du lịch y tế không chỉ hướng đến thu hút bệnh nhân, mà còn hình thành chuỗi dịch vụ gồm y tế, lưu trú và phục hồi. Trên thực tế, một số cơ sở y tế tại các điểm đến du lịch như: Vinmec Nha Trang, Vinmec Phú Quốc, Vinmec Đà Nẵng hay Vinmec Hạ Long đã và đang áp dụng thành công mô hình kết nối dịch vụ y tế với hệ sinh thái du lịch, nghỉ dưỡng của địa phương.
Theo số liệu được Bộ Y tế dẫn lại, Thái Lan thu hút khoảng 3 triệu lượt khách du lịch y tế mỗi năm, mang về gần 3 tỷ USD doanh thu trực tiếp. Nước này tập trung vào tim mạch, chỉnh hình, thẩm mỹ, đồng thời kết nối điều trị với khách sạn, nghỉ dưỡng và các sản phẩm du lịch. Hàn Quốc và Nhật Bản cũng phát triển các sản phẩm thu hút khách quốc tế đến điều trị ung thư, tầm soát chuyên sâu và các dịch vụ y tế khác, kết hợp với trải nghiệm văn hóa và du lịch.
Việt Nam có đầy đủ điều kiện thuận lợi để tham gia thị trường này. Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, chi phí dịch vụ y tế tại Việt Nam chỉ bằng khoảng 30-50% so với một số quốc gia như Singapore và Thái Lan, trong khi năng lực chuyên môn ở nhiều lĩnh vực đã có bước tiến đáng kể. Đây là lợi thế khi tiếp cận nhóm khách quốc tế quan tâm đến cả chi phí và chất lượng điều trị.
Cùng với đó, Việt Nam còn có lợi thế phù hợp với các mô hình chăm sóc sức khỏe gắn với nghỉ dưỡng. Theo Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, vật lý trị liệu cùng nguồn dược liệu phong phú là những lĩnh vực có tiềm năng.
Về điều kiện tự nhiên, Thứ trưởng nhận xét, Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài, khí hậu đa dạng, cảnh quan thiên nhiên phong phú cộng hưởng với văn hóa và ẩm thực cũng tạo điều kiện kết nối chăm sóc sức khỏe với lưu trú và nghỉ dưỡng.
GS Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, cho rằng ngành y tế đang từng bước tham gia sâu hơn vào dòng chảy y khoa thế giới. Đặc biệt, với chi phí điều trị hợp lý và năng lực chẩn đoán lâm sàng xếp vào top đầu thế giới là những điểm mạnh giúp Việt Nam mở rộng khả năng cung cấp dịch vụ cho người bệnh không chỉ trong mà còn cả ngoài nước.
Theo các chuyên gia, Việt Nam có hệ thống các khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp trải dài Bắc đến Nam nhưng đa phần mới dừng lại phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe, từ spa, trị liệu đến các chương trình phục hồi riêng lẻ, chưa hình thành kết nối chặt chẽ giữa cơ sở y tế chuyên sâu với lưu trú và nghỉ dưỡng. Vì vậy, thách thức với Việt Nam không chỉ nằm ở năng lực khám chữa bệnh, mà còn ở khả năng kết nối các mắt xích thành một hệ sinh thái thống nhất.
Lời giải bài toán y tế kết hợp nghỉ dưỡng
TS Nguyễn Thị Hiền, Đại học Y Dược TP HCM, cho rằng sự thiếu vắng các tổ hợp y tế - nghỉ dưỡng khép kín là một trong những hạn chế khiến Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có. Theo bà, nếu được đầu tư bài bản, việc kết nối y tế với lưu trú, phục hồi và nghỉ dưỡng có thể mở thêm dư địa cho cả ngành y tế và du lịch.
Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch y tế, từ năng lực khám chữa bệnh, chi phí điều trị cạnh tranh đến cảnh quan và hệ thống dịch vụ nghỉ dưỡng đa dạng. Tuy nhiên, những lợi thế này hiện vẫn chủ yếu tồn tại riêng lẻ. Một bệnh viện có thể sở hữu chuyên môn tốt nhưng thiếu hệ thống lưu trú, phục hồi và dịch vụ dành cho người bệnh và gia đình; ngược lại, một điểm nghỉ dưỡng có cảnh quan thuận lợi nhưng chưa có cơ sở y tế chuyên sâu. Do vậy, cần ra đời những tổ hợp đủ mạnh để tận dụng các thế mạnh sẵn có, cung cấp cho người bệnh một hành trình chăm sóc sức khỏe chuyên sâu từ điều trị đến nghỉ dưỡng phục hồi.
Cách kết hợp này cũng có thể triển khai khác nhau tùy từng địa phương. Hà Nội và TP HCM có lợi thế về hệ thống bệnh viện và y tế chuyên sâu; Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Ninh có thể gắn dịch vụ y tế với thế mạnh biển và nghỉ dưỡng; trong khi các địa phương có suối khoáng, khí hậu đặc thù hoặc thế mạnh y học cổ truyền có thể phát triển các sản phẩm thiên về phục hồi và chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, du lịch y tế không nhất thiết hình thành theo một mô hình duy nhất, mà có thể phát triển thành nhiều loại hình dựa trên lợi thế riêng của từng điểm đến.
Điển hình như khu vực Cần Giờ, TP HCM đang được đầu tư theo hướng kết nối đó. Khu vực này có rừng ngập mặn được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, cùng không gian biển và hệ sinh thái tự nhiên đặc thù. Trong siêu đô thị biển Vinhomes Green Paradise có Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Cần Giờ vừa được khởi công với quy mô 500 giường, dự kiến hoạt động từ tháng 12/2027.
Việc một cơ sở y tế được phát triển trong khu đô thị có định hướng du lịch và nghỉ dưỡng tạo điều kiện để kết nối dịch vụ khám chữa bệnh với lưu trú, phục hồi và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại điểm đến.
Để chuẩn bị cho mô hình này, Vinmec hợp tác với Cleveland Clinic, hệ thống y tế hàn lâm có hơn 100 năm hoạt động, trong việc tư vấn về thiết kế, không gian lâm sàng, quy trình vận hành, đào tạo và các yêu cầu liên quan đến chất lượng, an toàn người bệnh.
Về mô hình, sự kết nối có thể hình thành một hành trình gồm khám, điều trị, phục hồi và lưu trú trong cùng hệ sinh thái, với các lĩnh vực như tim mạch, ung bướu, lão khoa, y học thể thao và các dịch vụ phục hồi, chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, không phải mọi bệnh nhân hay mọi dịch vụ y tế đều phù hợp để kết hợp với nghỉ dưỡng. Việc nghỉ dưỡng chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với tình trạng người bệnh và hỗ trợ cho quá trình phục hồi, thay vì trở thành mục tiêu thay thế yêu cầu điều trị.
Cần Giờ vì vậy có thể được xem như một trong những ví dụ điển hình về cách các mô hình y tế mới đang tìm kiếm sự kết nối với hệ sinh thái du lịch tại Việt Nam. Ở những địa phương khác, cách tiếp cận có thể khác, dựa trên thế mạnh riêng về biển, nghỉ dưỡng, y học chuyên sâu, y học cổ truyền hoặc các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Để hình thành một sản phẩm du lịch y tế hoàn chỉnh, sự kết nối cũng cần mở rộng ra ngoài bệnh viện và điểm nghỉ dưỡng, với các mắt xích như hàng không, vận chuyển, bảo hiểm, lưu trú, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ khách quốc tế. Khi đó, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở chi phí điều trị hay cảnh quan, mà ở khả năng cung cấp một hành trình tương đối liền mạch, từ tư vấn, khám chữa bệnh đến phục hồi và chăm sóc sức khỏe.