Bão Narra, tức bão số 4, quét qua miền Bắc để lại những con số các địa phương vẫn đang rà soát: một người chết do sạt lở đất, khoảng 4.031 nhà ở và công trình phụ tại Lạng Sơn bị ảnh hưởng tính đến chiều 23/8, cùng hơn 6.800 nhà khác bị chia cắt vì đường sá tắc nghẽn.
Vài dòng tin, vài bức ảnh nhà ngập, rồi cuộc sống lại tiếp tục. Điều khiến tôi băn khoăn không phải là bản thân cơn bão, mà là cách chúng ta nói về nó. Mỗi lần thiên tai xảy ra, ngôn ngữ quen thuộc nhất vẫn là rủi ro, bất khả kháng, thiệt hại không lường trước.
Nhưng một sự kiện chỉ thực sự bất ngờ khi nó hiếm và khó đoán. Nhìn lại vài mùa mưa bão gần đây: cùng những khu vực đó, cùng kiểu thiệt hại đó, lặp lại đều đặn năm này qua năm khác. Thật khó để tiếp tục gọi đây là điều bất khả kháng.
Tôi nghĩ đây thực ra là một điểm đáng nhìn theo hướng tích cực hơn, nếu tách bạch đúng hai điều dễ bị gộp làm một. Cường độ chính xác và đường đi cụ thể của từng cơn bão ngày càng khó đoán, đặc biệt khi biến đổi khí hậu khiến các hiện tượng cực đoan trở nên thất thường hơn so với vài chục năm trước.
Nhưng mùa nào bão thường đến, vùng nào có nguy cơ chịu ảnh hưởng cao nhất, thì gần như đã ổn định qua nhiều năm quan sát. Ta không cần đoán đúng từng cơn bão để chuẩn bị tốt. Ta chỉ cần biết chắc rằng những vùng ấy, vào mùa ấy, gần như năm nào cũng có một cơn bão nào đó ghé qua. Đó đã là đủ dữ liệu để một khoản đầu tư phòng ngừa trở nên hợp lý.
Nếu nhìn theo cách một người quen tính toán chi phí dài hạn, câu hỏi thú vị không phải là ai đáng trách, mà là: Tổng chi phí khắc phục hậu quả mỗi mùa bão cộng dồn lại trong mười năm, so với chi phí gia cố nhà cửa hay chuẩn bị trước cho cùng chừng đó hộ dân, bên nào rẻ hơn.
Trực giác của tôi là vế sau thường rẻ hơn, chỉ là nó thua trong một cuộc cạnh tranh khác, cuộc cạnh tranh về sự chú ý. Một đợt cứu trợ sau bão luôn cảm động và dễ thấy. Còn một khoản đầu tư phòng ngừa làm tốt thì lại vô hình, vì đơn giản là chẳng có thảm họa nào xảy ra để nhắc tới.
Ta vẫn quen thích chữa cháy hơn phòng cháy, không hẳn vì chữa cháy rẻ hơn, mà vì nó luôn dễ nhìn thấy hơn. Bên cạnh việc gia cố hạ tầng vật chất, còn có một công cụ khác ít được nhắc tới hơn: các cơ chế phân tán rủi ro tài chính, mà bảo hiểm là ví dụ rõ nhất.
Nếu gia cố nhà cửa là cách giảm thiệt hại vật chất trước khi bão đến, thì bảo hiểm là cách giảm gánh nặng tài chính sau khi thiệt hại đã xảy ra, và đây cũng là một mảnh đất còn khá trống ở Việt Nam.
Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm, tức tổng doanh thu phí bảo hiểm so với quy mô GDP, hiện chỉ khoảng 2,3 đến 2,8%, trong khi mức trung bình châu Á khoảng 4% và thế giới khoảng 9%.
Ở vùng sát với câu chuyện bão lũ nhất, mức độ tham gia còn thấp hơn nhiều: Chỉ khoảng 5% nông dân cả nước tham gia bảo hiểm nông nghiệp hoặc bảo hiểm rủi ro thiên tai, tương đương chừng 450.000 hộ.
Con số ấy không hẳn vì không ai muốn tham gia, mà có lẽ vì loại sản phẩm phù hợp với đặc thù bão lũ Việt Nam vẫn còn khá mới, và sự kết nối giữa nông dân, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp bảo hiểm vẫn còn lỏng lẻo. Đây giống một mảnh đất còn trống hơn là một lỗ hổng ai đó bỏ quên.
Mùa mưa bão năm nay vẫn còn dài, và những bản tin tương tự có thể sẽ còn xuất hiện trước khi mùa kết thúc. Nhưng tôi muốn thử nhìn nó theo một cách khác, thay vì hỏi tại sao năm nào cũng thế, có lẽ nên hỏi giờ ta đã biết trước quy luật rồi, vậy mùa sau có thể chuẩn bị được gì mà mùa này chưa kịp làm.
Một khi bắt đầu nhìn bão theo hướng đó, có lẽ mỗi mùa mưa tới sẽ bớt đi cảm giác bất ngờ, và nhiều thêm một chút phần chuẩn bị.
Nguyễn Đức Thành