Trong khi khoa học công nghệ đang phát triển thần tốc thì khoa học xã hội nhân văn lại đang phát triển rất chậm. Điều đó đặt ra nhiều thách thức nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội. Đây là chủ đề được các chuyên gia tập trung chia sẻ tại thảo luận bàn tròn “Khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế”.
Sự kiện do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức hôm nay, 24/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội 2026.
Hệ luỵ của AI và bài toán cho khoa học xã hội
Theo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy, Diễn đàn Khoa học Xã hội và Nhân văn mùa thu Hà Nội 2026 diễn ra trong bối cảnh thế giới đang có những chuyển biến sâu sắc do toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI). Bối cảnh này đặt ra nhiều thách thức đồng thời mở ra cơ hội mới cho khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam.
Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng có thể nhận diện ba nhóm thách thức lớn. Trước hết là yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn phải quan tâm sâu sắc hơn đến sự phát triển toàn diện của con người và xã hội Việt Nam; không chỉ phát triển về kinh tế mà còn giàu mạnh về giá trị xã hội.
Câu hỏi đặt ra cho các nhà khoa học xã hội nhân văn là làm thế nào để đất nước phát triển mà vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc? Xây dựng con người Việt Nam thế nào để thích ứng, làm việc chung với trí tuệ nhân tạo? Mô hình xã hội thời gian tới sẽ biến đổi như thế nào dưới tác động của công nghệ?
Thách thức thứ hai là sự chênh lệch tốc độ phát triển rất chậm của khoa học xã hội nhân văn với tốc độ phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và AI. Những tiến bộ của AI tạo sinh, các hệ thống AI tự chủ và công nghệ mô phỏng đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động nghiên cứu, sản xuất, giáo dục và đời sống xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ cũng đặt ra nhiều vấn đề mới về nguy cơ suy giảm năng lực tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, phương thức học tập và làm việc, sức khỏe tinh thần cũng như các mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng. Đây là những vấn đề mà khoa học xã hội và nhân văn cần chủ động nghiên cứu, đuổi kịp và đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phù hợp.
Thách thức thứ ba là yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh thế giới ngày càng kết nối chặt chẽ. Theo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, để nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh, Việt Nam không chỉ cần phát triển khoa học, công nghệ mà còn phải phát huy những giá trị riêng về văn hóa, con người và xã hội. Chính nền tảng khoa học xã hội và nhân văn có thể giúp Việt Nam nhận diện lợi thế, giải quyết những vấn đề đặc thù và đóng góp các cách tiếp cận mới cho cộng đồng quốc tế.
Đây cũng là nhận định của Phó giáo sư, Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Theo ông Bùi Hoài Sơn, công nghệ có thể giúp một quốc gia phát triển nhanh hơn, nhưng văn hóa, đạo đức và niềm tin mới làm cho sự phát triển đó có chiều sâu. Trí tuệ nhân tạo có thể xử lý dữ liệu, nhưng không thay con người lựa chọn sự công bằng, lòng nhân ái hay trách nhiệm với những người dễ bị bỏ lại phía sau. Một xã hội không chỉ cần thông minh hơn, mà còn phải nhân văn hơn.
Bởi vậy, khoa học xã hội và nhân văn phải đi xa hơn việc giải thích những điều đã xảy ra: chủ động dự báo biến đổi, cảnh báo rủi ro và góp phần tìm điểm tựa giá trị cho tương lai. Từ đạo đức công nghệ, văn hóa số đến gia đình, giáo dục, niềm tin xã hội, rất cần những nghiên cứu liên ngành có trách nhiệm.
Nghiên cứu phải gắn với thực tiễn
Từ yêu cầu thực tiễn, Phó giáo sư, Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn cho rằng các nghiên cứu cần phải gần hơn với những vấn đề của đất nước, những điều thiết thân của người dân. Mỗi đề tài phải trả lời câu hỏi sẽ giúp hiểu đúng hơn điều gì, quyết định tốt hơn việc gì, cải thiện cuộc sống của ai?
Nhấn mạnh thực tiễn cuộc sống không chia thành từng ngăn như giáo trình, trí tuệ nhân tạo cũng là vấn đề đạo đức, luật pháp, văn hóa và giáo dục, câu chuyện gia đình cũng gắn với kinh tế, truyền thông và an sinh xã hội, Phó giáo sư Bùi Hoài Sơn đề nghị việc nghiên cứu phải phát huy sức mạnh liên ngành để mang lại hiệu quả thiết thực.
Bên cạnh đó, ông Sơn cũng cho rằng cần gắn chặt hơn giữa giảng đường, cơ quan tham mưu chính sách và đời sống. Các nghiên cứu cần có những kiến nghị rõ ràng, giải pháp khả thi, tạo những chuyển biến thực chất.
Cùng chia sẻ quan điểm này, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy bày tỏ kỳ vọng diễn đàn sẽ thúc đẩy các trao đổi học thuật chuyên sâu, hình thành những khuyến nghị chính sách có cơ sở khoa học. Ông đề nghị các nhà khoa học tiếp tục đồng hành cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Giáo dục và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong việc xác định cụ thể vấn đề ngành khoa học xã hội nhân văn Việt Nam cần nghiên cứu, giải quyết đối với con người, gia đình, xã hội, đất nước Việt Nam.
Với mong muốn tăng cường hơn nữa sự đóng góp trực tiếp của khoa học xã hội nhân văn với sự phát triển đất nước, ông Duy cho rằng cần nghiên cứu, xây dựng, thử nghiệm và nhân rộng những mô hình phát triển dựa trên nền tảng khoa học xã hội và nhân văn. Đặc biệt, cần chú trọng các mô hình thực nghiệm có khả năng ứng dụng trong thực tiễn, qua đó kiểm chứng hiệu quả, hoàn thiện giải pháp và chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành những đóng góp thiết thực cho xã hội.
Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội nêu ví dụ cụ thể như mô hình phong trào Làng mới (Saemaul Undong) của Hàn Quốc với những kinh nghiệm về phát huy sức mạnh cộng đồng, tinh thần tự lực, tự cường và sự tham gia của người dân; mô hình hợp tác xã gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ Kibbutz của Israel. Theo ông Bùi Thế Duy, sự phát triển của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào thành tựu công nghệ mà còn gắn chặt với cách thức tổ chức xã hội, huy động nguồn lực và phát huy năng lực con người.
Theo Giáo sư Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, từ hội nghị đến kiến nghị có giá trị và kết nối nghiên cứu ứng dụng thực tiễn cũng là mục tiêu nhà trường đặt ra khi tổ chức Diễn đàn Khoa học Xã hội và Nhân văn mùa thu Hà Nội 2026. Sự kiện đã thu hút khoảng 1.300 đại biểu trong và ngoài nước với 20 hội thảo, tọa đàm, thảo luận bàn tròn,
“Tuy nhiên, quy mô chưa phải thước đo cuối cùng của thành công. Kết quả cuối cùng cần được đánh giá trên cơ sở các sản phẩm khoa học thực tế, các thỏa thuận hợp tác được triển khai, những kiến nghị có giá trị được hình thành và tác động lâu dài đối với cộng đồng học thuật,” Giáo sư Hoàng Anh Tuấn nói./.
(Vietnam+)