Tuy nhiên, những vướng mắc về định danh chất thải, quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế lưu thông và thị trường tiêu thụ đang khiến nhiều nguồn tài nguyên thứ cấp chưa được khai thác hiệu quả. Hoàn thiện thể chế, kết nối chuỗi tái chế và tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Không để tài nguyên tiếp tục bị bỏ phí
Tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải trong sản xuất công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường” do Tạp chí Công thương tổ chức ngày 2/11, các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng chỉ ra một nghịch lý: Trong khi nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất ngày càng lớn, nhiều dòng chất thải công nghiệp có khả năng tái chế vẫn chưa thể quay trở lại chuỗi sản xuất một cách thuận lợi.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thi, giảng viên chính Bộ môn Pháp luật, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý chất thải, từ xử lý ở cuối đường ống sang quản lý toàn bộ vòng đời sản phẩm. Cách tiếp cận mới chú trọng ngăn ngừa chất thải ngay từ khâu thiết kế, lựa chọn vật liệu, tổ chức sản xuất sạch hơn, kéo dài vòng đời sản phẩm và thúc đẩy thu gom, tái chế.
Cùng với đó, cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), chính sách ưu đãi về thuế, phí, tiếp cận đất đai, tín dụng xanh và tài chính xanh đã mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động tuần hoàn. Tuy nhiên, theo ông Trương Việt Trường, chuyên viên chính Phòng Môi trường Công thương, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công thương), tỷ lệ tái chế, tái sử dụng của toàn ngành vẫn chưa đạt kỳ vọng. Việc chuyển đổi từ xử lý chất thải cuối đường ống sang tổ chức kinh tế tuần hoàn ngay trong dây chuyền sản xuất còn gặp nhiều rào cản.
Ngoài ra, điểm nghẽn lớn nằm ở việc chưa có cơ chế đầy đủ để chuyển một dòng chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thành hàng hóa, nguyên liệu sản xuất có thể lưu thông trên thị trường.
Thạc sĩ Nguyễn Thi cho rằng, pháp luật cần có quy định rõ ràng về việc chấm dứt tư cách chất thải đối với những vật chất đã đáp ứng các điều kiện để trở thành hàng hóa. Quá trình chuyển đổi cần dựa trên ba yêu cầu: có mục đích sử dụng và thị trường tiêu thụ; bảo đảm an toàn thông qua việc đáp ứng các quy chuẩn; có quy trình pháp lý minh bạch, rõ ràng, đơn giản để doanh nghiệp thực hiện.
Bên cạnh đó, việc thiếu mã HS đối với các vật chất sau khi được chuyển đổi thành hàng hóa cũng là trở ngại đáng kể, nhất là trong hoạt động giao dịch và xuất khẩu. Khi chưa được định danh đầy đủ, những vật chất có giá trị kinh tế vẫn khó tham gia vào chuỗi cung ứng như một loại nguyên liệu thông thường.
Từ mô hình sản xuất đến chuỗi giá trị tuần hoàn
Thực tiễn tại doanh nghiệp cho thấy, khi được đầu tư công nghệ phù hợp, chất thải hoàn toàn có thể trở thành nguồn nguyên liệu mang lại giá trị kinh tế. Tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thép Miền Nam (VNSTEEL), công nghệ lò điện hồ quang EAF được lựa chọn ngay từ đầu, sử dụng thép vụn, thép phế làm nguyên liệu chính để sản xuất thép thành phẩm. Theo ông Lê Việt, Tổng giám đốc Công ty, đây là hướng công nghệ tạo điều kiện đưa những sản phẩm thép đã qua sử dụng trở lại chu trình sản xuất, tiếp tục một vòng đời mới.
Theo báo cáo được doanh nghiệp nêu tại tọa đàm, sản xuất một tấn thép bằng công nghệ lò cao phát thải trung bình khoảng 1,8 tấn CO2, trong khi công nghệ lò điện EAF khoảng 0,5 tấn CO2. Mức phát thải thực tế còn phụ thuộc vào quá trình vận hành, nguyên liệu đầu vào và năng lượng sử dụng.
Không chỉ tái chế nguyên liệu đầu vào, doanh nghiệp còn đầu tư khoảng 42 tỷ đồng cho hệ thống thu hồi bụi lò. Nguồn bụi sau thu hồi được chuyển đến các đơn vị chế biến để thu hồi kim loại, trong đó hàm lượng kẽm được doanh nghiệp đề cập ở mức khoảng 30-35%. Xỉ lò điện cũng được nghiên cứu, xử lý để làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất xi măng, bê tông nhẹ.
Tuy nhiên, theo ông Lê Việt, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn do một số quy định, quy chuẩn giữa các bộ, ngành chưa đồng bộ. Tiêu chuẩn về thép phế nhập khẩu và quản lý tạp chất có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, gây khó khăn cho hoạt động nhập khẩu nguyên liệu. Trong khi đó, các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ và châu Âu ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, môi trường và phát thải carbon.
Câu chuyện của ngành giấy cũng cho thấy rõ dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo Tiến sĩ Lương Chí Hiếu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển VPPA, kiêm Chánh văn phòng Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, mỗi năm ngành giấy sử dụng gần 7 triệu tấn nguyên liệu tái chế phục vụ sản xuất, chủ yếu là giấy bao bì.
Dù có tỷ lệ sử dụng nguyên liệu tái chế đáng kể, ngành giấy vẫn gặp khó khăn trong xử lý và tái sử dụng tro xỉ từ các nhà máy. Việc thiếu hướng dẫn liên ngành khiến nguồn tro xỉ có khả năng làm vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp hoặc phụ gia cho các ngành công nghiệp khác chưa được khai thác hiệu quả.
Một vấn đề khác là doanh nghiệp nhập khẩu giấy phế liệu phải thực hiện ký quỹ ở mức 15-20% giá trị lô hàng. Theo ông Hiếu, nguồn tiền này đang bị đóng băng, trong khi doanh nghiệp cần vốn để đầu tư sản xuất, vì vậy cần xem xét điều chỉnh mức ký quỹ xuống khoảng 0-5%.
Để khơi thông dòng chảy tài nguyên từ chất thải, vấn đề không chỉ nằm ở công nghệ của từng nhà máy mà còn ở khả năng kết nối toàn bộ chuỗi thu gom, phân loại, xử lý và tiêu thụ nguyên liệu tái chế. Theo ông Trương Việt Trường, cần coi các dòng thải công nghiệp có khả năng tái chế là nguồn tài nguyên. Mỗi năm, các ngành năng lượng, luyện kim và hóa chất phát sinh hàng chục triệu tấn tro xỉ, xỉ thép, thạch cao. Nếu không được xử lý, tái chế hiệu quả, lượng chất thải này sẽ chiếm dụng diện tích đất lớn, làm tăng chi phí doanh nghiệp và nguy cơ sự cố môi trường.
Bộ Công thương đang triển khai Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam giai đoạn 2025-2030 theo Quyết định số 1894/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch hành động của Bộ Công thương tại Quyết định số 3637 tập trung vào nghiên cứu, làm chủ công nghệ xử lý và tái chế chất thải; hoàn thiện danh mục công nghệ, thiết bị, sản phẩm môi trường; khuyến khích cộng sinh công nghiệp và phối hợp khơi thông nguồn lực tài chính xanh.
Cùng với vai trò kiến tạo của Nhà nước, doanh nghiệp cần chủ động liên kết để hình thành các chuỗi tuần hoàn, trong đó đầu ra của doanh nghiệp này trở thành đầu vào của doanh nghiệp khác. Đặc biệt, cần quan tâm phát triển thị trường tiêu thụ nguyên liệu tái chế, bởi nếu chỉ chú trọng nguồn cung mà thiếu nhu cầu sử dụng thì hoạt động thu gom, tái chế khó có thể phát triển bền vững.
KIM DUNG