Bỏ qua điều hướng
•

Khơi thông dòng vốn, trợ lực cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa bước vào hội nhập

Khơi thông dòng vốn, trợ lực cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa bước vào hội nhập
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Hiện có tới 60,2% doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng. Nút thắt lớn nhất không chỉ nằm ở năng lực kỹ thuật, mà còn bị chi phối nặng nề bởi điểm nghẽn tài chính. Lấy dữ liệu và tín dụng làm đòn bẩy cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển Đề xuất phân tầng chính sách thuế thu...

Ngày 27/10, tại Hà Nội, Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức hội thảo "Kết nối cơ hội đơn hàng - Nâng năng lực cung ứng và giải pháp vốn cho doanh nghiệp".

Đến tháng 10/2026, Việt Nam đã thiết lập mạng lưới hội nhập kinh tế sâu rộng với 18 Hiệp định thương mại tự do (FTA), bao phủ hầu hết các khu vực kinh tế phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, độ mở của nền kinh tế dường như vẫn chưa thể lập tức chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh cho phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong nước.

Phát biểu khai mạc tại sự kiện, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI, viện dẫn một số dữ liệu đáng chú ý, theo đó, cơ hội thị trường không đồng nghĩa với việc mọi doanh nghiệp đều có thể tiếp cận được đơn hàng.

Hiện có tới 60,2% doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng; riêng ngành công nghiệp chế tạo, tỷ lệ này lên tới 64,4%. Nút thắt lớn nhất dẫn đến tình trạng "đói" đơn hàng không chỉ nằm ở năng lực kỹ thuật, mà còn bị chi phối nặng nề bởi điểm nghẽn tài chính.

Ông Nghĩa chỉ rõ, có đến 75% doanh nghiệp thừa nhận không thể tiếp cận vốn vay nếu thiếu tài sản bảo đảm và hơn 93% các khoản vay hiện nay đều yêu cầu thế chấp tài sản vật lý - một tỷ lệ cao hơn hẳn so với mức trung bình toàn cầu là 68,3%. Thiếu đơn hàng dẫn đến khó duy trì công suất; thiếu vốn lại khiến doanh nghiệp bất lực trong việc đổi mới công nghệ, hình thành một vòng luẩn quẩn bào mòn sức cạnh tranh của khối SME nội địa.

Trong bối cảnh hiện tại, khái niệm "năng lực cung ứng" đã vươn xa khỏi khuôn khổ của việc sản xuất ra một sản phẩm đạt chuẩn vật lý thông thường. Cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang bị chi phối bởi các chuẩn mực phát triển bền vững.

Phân tích về xu hướng này, Tiến sỹ Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, các rào cản kỹ thuật như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay Quy định chống phá rừng (EUDR) của Liên minh châu Âu đang tạo ra những màng lọc khắt khe. Yêu cầu chuẩn mực xanh và bền vững từ thị trường quốc tế hiện nay không còn mang tính khuyến nghị mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, được ví như một tấm 'hộ chiếu xanh' đối với doanh nghiệp Việt.

Bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch hóa chuỗi cung ứng (Due Diligence) từ các tập đoàn đa quốc gia đòi hỏi nhà sản xuất nội địa phải số hóa và minh bạch toàn bộ dữ liệu từ khâu nguyên liệu đầu vào đến mức độ phát thải.

Để trợ lực cho doanh nghiệp vượt qua rào cản này, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP của Chính phủ đã kịp thời bổ sung hàng loạt cơ chế thiết thực, như hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đầu tư máy móc, phần mềm và hỗ trợ từ 50%-100% chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm đẩy nhanh quá trình xanh hóa.

Giữa bối cảnh nhiều doanh nghiệp SME đang loay hoay, câu chuyện vươn mình của Tập đoàn CNCTech từ một xưởng gia công quy mô nhỏ năm 2008 trở thành một hệ sinh thái công nghiệp phục vụ hơn 320 khách hàng nước ngoài tại 35 quốc gia được xem là một bài học thực chứng sinh động.

Tiến sỹ Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc CNCTech, cho biết, cơ hội từ việc các tập đoàn FDI dịch chuyển chuỗi cung ứng là rất lớn, nhưng đơn hàng sẽ chỉ tự tìm đến với những đơn vị có sự chuẩn bị bài bản về năng lực. Thay vì đợi có khách hàng mới bắt đầu nâng cấp, doanh nghiệp cần định vị thị trường toàn cầu ngay từ vạch xuất phát.

Trên hành trình này, chứng chỉ quốc tế là vé vào cửa, không phải đích đến. Doanh nghiệp cần chọn ngành trước, chứng chỉ sau và việc trang bị các chứng nhận như IATF 16949 cho ngành ôtô hay AS9100 cho hàng không phải đi cùng sự đầu tư thật sự về thiết bị, con người và kỷ luật vận hành hàng ngày.

Ông Kiên cũng khuyến nghị các doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải làm tất cả mọi khâu, mà nên liên kết, hợp tác hoặc thậm chí tiến hành M&A để tạo ra chuỗi dịch vụ tích hợp, từ đó đủ sức nhận các đơn hàng quy mô lớn.

Để chuỗi cung ứng không bị đứt gãy, bên cạnh năng lực kỹ thuật, sự trơn tru của dòng tiền là yếu tố mang tính quyết định. Tuy nhiên, rào cản thiếu tài sản bảo đảm truyền thống đang khiến hàng chục nghìn doanh nghiệp SME "khát" vốn dù có đơn hàng trong tay.

ttxvn_ca-mau-go-kho-thu-tuc-day-manh-phat-trien-doanh-nghiep-8812503.jpg
Hoạt động sản xuất tại một doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Cà Mau. (Ảnh: Tuấn Phi/TTXVN)

Tiếp cận bài toán này dưới lăng kính của tổ chức tín dụng, bà Bùi Thu Trang, Trưởng phòng Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp BIDV, đã chỉ ra một sự dịch chuyển căn bản trong việc đáp ứng nhu cầu cấp vốn. Thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp (bất động sản, máy móc), ngân hàng hiện nay đang tập trung vào các giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng (SCF), bao thanh toán và tài trợ dựa trên khoản phải thu hoặc hóa đơn bán hàng.

Bà Trang nhấn mạnh sự thay đổi trong tư duy quản trị tài chính, việc minh bạch dòng tiền, báo cáo tài chính không chỉ là cơ sở để các đối tác quốc tế chọn làm nhà cung ứng, mà đây còn là điều kiện tiên quyết để ngân hàng thiết kế khoản vay và cấp vốn nhanh chóng mà không cần hoàn toàn dựa vào tài sản thế chấp.

Khi doanh nghiệp số hóa giao dịch và chứng minh được dòng tiền lành mạnh từ các đơn hàng đầu ra, các nền tảng như BIDV SCF hoàn toàn có thể cấp tín dụng dựa trên điều kiện tín chấp, giúp doanh nghiệp nhận tiền sớm, giảm rủi ro tỷ giá và tối ưu hóa vòng quay hàng hóa.

Sự hội tụ của cả ba yếu tố: chính sách định hướng, năng lực kỹ thuật và giải pháp tài chính linh hoạt chính là chìa khóa để giải quyết bài toán đơn hàng trong giai đoạn hiện nay. Cơ hội để chen chân vào chuỗi giá trị tỷ USD của các "đại bàng" FDI đã hiển hiện. Song, để nắm bắt được, cộng đồng SME Việt Nam không thể tiếp tục bám víu vào lợi thế gia công giá rẻ, mà buộc phải bước vào một cuộc lột xác toàn diện về tư duy quản trị, chuyển đổi xanh và số hóa quy trình vận hành./.

(TTXVN/Vietnam+)
Dù Việt Nam đã tham gia 18 Hiệp định thương mại tự do (FTA), độ mở nền kinh tế vẫn chưa thể chuyển hóa trọn vẹn thành lợi thế cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Thống kê từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy 60,2% doanh nghiệp trong nước đang gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, riêng ngành chế tạo chạm mốc 64,4%. Điểm nghẽn lớn nhất khiến các đơn vị nội địa thiếu hụt đơn hàng bắt nguồn từ rào cản tiếp cận nguồn vốn. Thực trạng tài chính hiện nay tạo nên vòng luẩn quẩn bào mòn sức cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp. Có tới 75% doanh nghiệp thừa nhận không thể tiếp cận tín dụng nếu thiếu tài sản bảo đảm, trong khi hơn 93% khoản vay đòi hỏi thế chấp tài sản vật lý, vượt xa mức trung bình 68,3% của toàn cầu. Việc thiếu hụt nguồn lực khiến doanh nghiệp bất lực trước yêu cầu đổi mới công nghệ và duy trì công suất sản xuất. Bên cạnh áp lực tài chính, chuẩn mực chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các tiêu chí phát triển bền vững. Tiến sỹ Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương chỉ rõ các rào cản kỹ thuật như cơ chế CBAM hay quy định EUDR đã trở thành điều kiện bắt buộc để thâm nhập thị trường quốc tế. Doanh nghiệp buộc phải số hóa và minh bạch toàn bộ dữ liệu từ nguồn nguyên liệu đến lượng phát thải. Nhằm trợ lực cho khối SME vượt qua thách thức kép, Nghị định số 205/2025/NĐ-CP đã ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ thiết thực. Chính sách mới tập trung tài trợ tối đa 50% kinh phí đầu tư máy móc, phần mềm, đồng thời hỗ trợ từ 50% đến 100% chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D). Sự đồng hành kịp thời về chính sách và tín dụng sẽ tạo đòn bẩy quan trọng giúp doanh nghiệp chuẩn hóa năng lực cung ứng để hội nhập sâu rộng.
amung