Xử lý căn cơ các điểm nghẽn thể chế làm suy giảm khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế
Thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước sáng 18/10, đại biểu Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang) cho biết, thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi nhằm hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn tín dụng của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, mà còn từ những biến động của môi trường kinh doanh, những bất cập về thể chế, pháp lý dự án, thị trường đầu ra và năng lực tài chính, quản trị của chính doanh nghiệp.
Để khơi thông hiệu quả dòng vốn tín dụng, đại biểu Nguyễn Việt Hà cho rằng cần chuyển trọng tâm từ giải pháp tăng cung vốn đơn thuần sang tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn cản trở dòng vốn đến được những khu vực sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
Đại biểu kiến nghị 5 nhóm giải pháp cụ thể. Thứ nhất, nâng cao hiệu quả cung ứng tín dụng trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống. Các tổ chức tín dụng cần tiếp tục số hóa quy trình, khai thác hiệu quả dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian thẩm định, giải ngân; thiết kế sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực và quy mô doanh nghiệp.
Đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ chuẩn tín dụng; mở rộng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng thẩm định, quản trị rủi ro và kiểm soát chất lượng tài sản.
Đại biểu Nguyễn Việt Hà
"Tuy nhiên, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ chuẩn tín dụng; mở rộng tín dụng phải đi đôi với nâng cao chất lượng thẩm định, quản trị rủi ro và kiểm soát chất lượng tài sản", đại biểu lưu ý.
Thứ hai, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và cơ chế đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Theo đại biểu, một trong những rào cản đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nay là thiếu báo cáo tài chính minh bạch, thiếu dữ liệu chứng minh dòng tiền và năng lực trả nợ, trong khi tài sản bảo đảm còn hạn chế.
Vì vậy, cần hoàn thiện quy định về hình thành, chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu doanh nghiệp từ các nguồn như thuế, hóa đơn điện tử, tài chính, dòng tiền và tình trạng tuân thủ pháp luật; đồng thời quy định rõ trách nhiệm cung cấp, cập nhật, bảo đảm tính chính xác và bảo vệ dữ liệu của các cơ quan, tổ chức liên quan.
Trên cơ sở đó, phát triển hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp có độ tin cậy cao, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng đánh giá khách hàng dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hiệu quả hoạt động, lịch sử tín dụng và năng lực trả nợ, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Đây là hướng đi quan trọng để mở rộng khả năng tiếp cận vốn nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro tín dụng.
Thứ ba, xử lý căn cơ các điểm nghẽn thể chế làm suy giảm khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đại biểu đề nghị tập trung tháo gỡ vướng mắc về đất đai, thủ tục đầu tư, pháp lý dự án, giải phóng mặt bằng và cơ chế giá, hợp đồng đầu ra đối với các lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn như hạ tầng, năng lượng, khu công nghiệp, nhà ở xã hội và các dự án xanh.
Đồng thời, cần phát triển thị trường mua bán nợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và các chủ thể tham gia thị trường; hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp. Qua đó, giải phóng nguồn lực đang bị đình trệ, cải thiện khả năng quay vòng vốn và tạo thêm dư địa cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Thứ tư, nâng cao năng lực nội tại và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Đại biểu nêu rõ, khả năng tiếp cận tín dụng không chỉ phụ thuộc vào phía ngân hàng mà còn phụ thuộc vào sức khỏe tài chính và chất lượng dự án của bên vay. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường.
Đặc biệt, chú trọng tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, có khả năng dự báo, khuyến khích đầu tư và đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp có đầu ra, có phương án kinh doanh khả thi và dòng tiền trả nợ bền vững, nhu cầu tín dụng thực chất mới được chuyển hóa thành khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Thứ năm, phát triển cân đối các kênh dẫn vốn, giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng. Theo đại biểu Nguyễn Việt Hà, về dài hạn không thể để tín dụng ngân hàng tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Cần phát triển thực chất thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư và quỹ hỗ trợ doanh nghiệp; tăng cường minh bạch, kỷ luật thị trường và bảo vệ nhà đầu tư.
Vốn tăng thêm phải tạo năng lực phát triển
Phát biểu ý kiến trong phiên thảo luận, đại biểu Vương Thị Hương (Đoàn Tuyên Quang) ghi nhận nỗ lực điều hành của Chính phủ trong bối cảnh còn nhiều khó khăn. GDP 9 tháng ước tăng 9,01%, thu ngân sách cả năm ước vượt 20,8% dự toán là những kết quả tích cực tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu phát triển cao hơn.
Trước mục tiêu tăng trưởng năm 2027 từ 10% trở lên và dự toán chi đầu tư phát triển tăng 56,7% so với dự toán năm 2026, đại biểu cho rằng chất lượng lựa chọn dự án và năng lực tổ chức thực hiện sẽ quyết định đóng góp của chính sách tài khóa đối với tăng trưởng.
"Phương án thực hiện kế hoạch năm 2027 cần chỉ rõ nguồn lực tăng thêm sẽ tạo năng lực sản xuất, công năng hạ tầng và kết nối nào. Phân bổ, điều hòa vốn phải gắn với khối lượng hoàn thành, thời điểm đưa công trình vào sử dụng và tác động đối với sản xuất, kinh doanh; ưu tiên công trình đủ điều kiện khai thác đồng bộ", đại biểu lưu ý.
Với hạ tầng liên vùng, nhấn mạnh ngân sách trung ương cần phát huy vai trò điều phối trên phạm vi hưởng lợi của cả vùng, đại biểu Vương Thị Hương đề nghị Chính phủ quan tâm bổ sung có mục tiêu 1.000 tỷ đồng cho Dự án cao tốc Tuyên Quang-Hà Giang, giai đoạn hoàn chỉnh, đoạn qua tỉnh Tuyên Quang. Hoàn chỉnh tuyến đường sẽ góp phần giảm chi phí vận chuyển, kết nối miền núi, biên giới với các trung tâm sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ, nâng sức hấp dẫn đầu tư.
Đối với việc xây dựng các trường nội trú biên giới giai đoạn 2, đại biểu lưu ý mốc hoàn thành trước ngày 30/8/2027 phải gắn với các điều kiện để học sinh vào học đúng kế hoạch năm học 2027-2028.
Theo báo cáo, Chính phủ dành đủ nguồn lực 51.700 tỷ đồng từ nhiều nguồn để xây dựng các trường biên giới. Riêng nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 dành cho nhiệm vụ này, tại thời điểm báo cáo còn 14.482,751 tỷ đồng chưa phân bổ.
Đại biểu đồng tình với đề xuất chuyển sang năm 2027 phần nguồn tăng thu này còn lại chưa phân bổ, dành xây dựng trường biên giới, chưa sử dụng hết trong năm 2026. Tuy nhiên, việc cho phép chuyển nguồn cần đi cùng tiến độ giao vốn cụ thể và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nguồn lực dành cho chủ trương chỉ có thể chuyển thành khối lượng xây dựng khi được phân bổ đến dự án đủ điều kiện, phù hợp tiến độ.
Thông tin thêm về tiến độ trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, đại biểu cho biết đã hoàn thành 6 trường nội trú giai đoạn 1, khánh thành, khai giảng năm học 2026-2027; giai đoạn 2 tiếp tục thực hiện 11 trường. Đại biểu kiến nghị sớm hỗ trợ 111,63 tỷ đồng để đền bù, giải phóng mặt bằng cho 11 dự án khởi công mới năm 2026; đồng thời bổ sung 963,55 tỷ đồng kế hoạch vốn ngân sách trung ương năm 2026 còn thiếu để hoàn thành các trường theo kế hoạch.
Xử lý dứt điểm các dự án năng lượng tồn đọng, đưa nguồn điện vào sản xuất
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) nhấn mạnh, bảo đảm đủ điện và xăng dầu là điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Chính phủ cần xác định rõ công suất điện có thể huy động, tiến độ hoàn thành lưới truyền tải, phương án cung ứng nhiên liệu và khả năng dự phòng trong các tình huống bất lợi, thay vì chỉ tổng hợp công suất nguồn điện đã quy hoạch.
Đại biểu đề nghị rà soát, tháo gỡ khó khăn về cơ chế đầu tư các dự án điện, hợp đồng mua bán điện, giá điện, thu xếp vốn và giải phóng mặt bằng; đồng thời thúc đẩy phát triển đồng bộ nguồn điện và lưới điện.
Cùng với đó, cần tăng dự trữ, đa dạng hóa nguồn cung xăng dầu, xem xét việc điều chỉnh giá năng lượng gắn với tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chi phí sản xuất.
Đề cập đến các dự án năng lượng tái tạo, điện gió còn vướng mắc, đại biểu Dương Khắc Mai cho biết, tại Kỳ họp không thường lệ vừa qua, Quốc hội đã có cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để tháo gỡ khó khăn cho lĩnh vực này.
Đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát trên phạm vi cả nước để xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, đưa nguồn điện vào sản xuất, khơi thông nguồn lực đang ách tắc, tạo động lực tăng trưởng cho địa phương và quốc gia.
Trước dự báo năm 2027, ảnh hưởng của El Nino sẽ kéo theo nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất và tiêu dùng tăng cao, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị Chính phủ chủ động rà soát, xử lý các vướng mắc để bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI
Khơi thông hiệu quả dòng vốn tín dụng, giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng
Hoàn thiện quy định tố tụng điện tử, bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật
Khơi thông nguồn lực, quyết liệt hành động để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số
VĂN TOẢN