Bỏ qua điều hướng
•

Khuyến khích ứng dụng khoa học-công nghệ vào chuỗi tiêu thụ nông sản

Khuyến khích ứng dụng khoa học-công nghệ vào chuỗi tiêu thụ nông sản
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Với nhiều vùng nguyên liệu nông sản, Quảng Ngãi đang mở rộng sản xuất, hướng đến thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, tại nhiều vùng, phương thức canh tác, thu hoạch, bảo quản chủ yếu theo phương pháp thủ công, ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị và khả năng tiêu thụ sản phẩm.

Khó khăn trong thu hoạch, tiêu thụ nông sản

Nhiều năm trồng ớt cung ứng cho các đại lý thu mua, chị Trần Thị Yến ở xã Bình Sơn có kinh nghiệm trong chăm sóc và thu hoạch loại cây trồng này. Trên diện tích năm sào, mỗi năm gia đình chị thu hoạch hơn một tấn ớt, tùy thuộc thời tiết và điều kiện chăm sóc. Đến vụ thu hoạch, chị Yến thuê nhân công hái thủ công, sau đó thu gom, giao cho đại lý ngay tại vườn. Theo chị, cách làm này khiến ớt dễ hao hụt, chất lượng không ổn định, thêm nữa quá trình bảo quản ớt tươi gặp khó khăn cho nên khi bán thường bị đại lý, thương lái ép giá.

Quảng Ngãi có nhiều vùng nguyên liệu nông sản với sản lượng lớn như ớt, gừng, các loại đậu và dược liệu. Tuy nhiên, việc ứng dụng khoa học, công nghệ và tiến bộ kỹ thuật trong các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ vẫn còn hạn chế. Phần lớn người dân vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống, chưa chú trọng các quy trình canh tác và giải pháp công nghệ, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả sản xuất.

Năm 2026, diện tích ớt của Quảng Ngãi ước hơn 1.440 ha, sản lượng khoảng 28.400 tấn, năng suất bình quân 196 tạ/ha, tập trung chủ yếu ở các xã phía đông. Diện tích gừng khoảng 290 ha, năng suất 74 tạ/ha, tập trung chủ yếu ở các xã phía tây với khoảng 206 ha và phía đông khoảng 83 ha.

Hướng đến thị trường xuất khẩu, tỉnh Quảng Ngãi phát triển vùng trồng đậu các loại với diện tích hơn 3.000 ha, sản lượng gần 5.000 tấn. Đối với nhóm cây dược liệu, tỉnh ưu tiên mở rộng những loại cây trồng chủ lực, trong đó trồng mới khoảng 20 triệu cây sâm Ngọc Linh trên diện tích 2.000 ha, 900 ha đẳng sâm, 600 ha quế, 300 ha tỏi Lý Sơn. Quy mô vùng nguyên liệu ngày càng lớn đặt ra yêu cầu cao hơn đối với khâu thu hoạch, bảo quản, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ. Vì vậy, ngành nông nghiệp xác định ứng dụng khoa học, công nghệ vào chuỗi sản xuất, tiêu thụ là một trong những giải pháp nâng cao giá trị nông sản, nhất là đối với những sản phẩm có sản lượng lớn và hướng đến thị trường xuất khẩu.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào chuỗi giá trị

Ứng dụng khoa học, công nghệ trong chuỗi tiêu thụ nông sản có thể hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, giảm hao hụt sau thu hoạch, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường thông qua các kênh phân phối hiện đại, thương mại điện tử. Tuy nhiên, tại nhiều xã, phường của Quảng Ngãi, việc tiêu thụ nông sản vẫn khó khăn, nhất là những sản phẩm có sản lượng lớn, thời gian thu hoạch tập trung và phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, việc áp dụng khoa học, công nghệ vào các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ được tỉnh xác định là hướng đi cần đẩy mạnh.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Trần Phước Hiền, một trong những ưu tiên hiện nay là ứng dụng khoa học, công nghệ vào kết nối và tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh. Trọng tâm là hình thành mối liên kết thực chất giữa doanh nghiệp có nhu cầu với những địa phương có điều kiện, lợi thế về sản xuất; qua đó khai thác tốt tiềm năng nông nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả sản xuất cho người dân.

Ngành nông nghiệp phối hợp chính quyền cơ sở khảo sát vùng sản xuất, lựa chọn hợp tác xã, xây dựng phương án hợp tác và ký kết hợp đồng phù hợp điều kiện từng vùng. Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người dân, nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; rà soát, quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung để thu hút cá nhân, doanh nghiệp đầu tư. Các địa phương cũng hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng chuỗi liên kết từ thu hoạch đến tiêu thụ, đưa nông sản vào các kênh phân phối hiện đại, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm.

“Các địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia ứng dụng khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất và kết nối tiêu thụ nông sản. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp bảo đảm quyền lợi và an toàn cho người dân sản xuất, trong đó tính đến phương án bảo hiểm khi xảy ra thiên tai hoặc biến động về giá”, đồng chí Trần Phước Hiền nhấn mạnh.

Chuyển đổi phương thức sản xuất đang đặt ra yêu cầu ngày càng rõ đối với các vùng nông nghiệp có sản lượng hàng hóa lớn. Với Quảng Ngãi, cùng với mở rộng vùng nguyên liệu, việc áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sẽ quyết định nhiều đến chất lượng và giá trị nông sản. Từ những vùng sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào phương thức thủ công, tỉnh đang hướng đến các chuỗi liên kết chặt chẽ hơn, trong đó người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường cùng tham gia. Đây cũng là cơ sở để nông sản Quảng Ngãi nâng cao chất lượng, tăng giá trị và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Bài và ảnh: ĐÔNG HUYỀN

Tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung mở rộng quy mô sản xuất nhiều vùng nguyên liệu nông sản chủ lực hướng tới tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, thực trạng canh tác, thu hoạch và bảo quản tại nhiều địa phương vẫn phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp thủ công truyền thống. Điều này làm gia tăng tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch, chất lượng sản phẩm thiếu ổn định và khiến nông dân dễ bị thương lái ép giá. Thực tế tại hộ chị Trần Thị Yến ở xã Bình Sơn cho thấy việc hái ớt thủ công trên diện tích 5 sào với sản lượng hơn 1 tấn mỗi năm gặp rất nhiều khó khăn trong khâu bảo quản tươi. Trên toàn tỉnh, diện tích ớt năm 2026 ước đạt hơn 1.440 ha với sản lượng khoảng 28.400 tấn, cùng với 290 ha gừng và hơn 3.000 ha đậu các loại. Bên cạnh đó, Quảng Ngãi cũng ưu tiên phát triển nhóm cây dược liệu quy mô lớn như 20 triệu cây sâm Ngọc Linh trên 2.000 ha, 900 ha đẳng sâm, 600 ha quế và 300 ha tỏi Lý Sơn. Quy mô vùng nguyên liệu ngày càng lớn đặt ra yêu cầu cấp thiết về ứng dụng khoa học, công nghệ vào các khâu sản xuất, bảo quản, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ. Việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào chuỗi giá trị sẽ hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng nông sản và mở rộng kênh phân phối hiện đại. Đây được xác định là giải pháp then chốt để nâng cao giá trị sản phẩm, đặc biệt đối với những mặt hàng nông sản có sản lượng lớn. Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Trần Phước Hiền, địa phương đang ưu tiên ứng dụng công nghệ để kết nối và thúc đẩy tiêu thụ nông sản trên địa bàn. Trọng tâm của tỉnh là hình thành mối liên kết thực chất giữa các doanh nghiệp thu mua với những vùng sản xuất có lợi thế nhằm khai thác tối đa tiềm năng nông nghiệp.