Bỏ qua điều hướng
•

Kiên định, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện: Sợi chỉ đỏ xuyên suốt và sự phát triển tư duy xây dựng Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, XII, XIII, XIV

Kiên định, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện: Sợi chỉ đỏ xuyên suốt và sự phát triển tư duy xây dựng Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, XII, XIII, XIV
Nguồn ảnh: Dân Trí

Các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, XIV là những dấu mốc quan trọng, thể hiện bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, quyết tâm khắc phục hạn chế, khuyết điểm để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Trong tiến trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, XIV là những dấu mốc quan trọng, thể hiện bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, quyết tâm khắc phục hạn chế, khuyết điểm để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xuất phát từ bối cảnh, yêu cầu và những vấn đề thực tiễn của mỗi nhiệm kỳ, các nghị quyết, kết luận vừa xác định nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, vừa bổ sung, phát triển nhận thức và phương thức xây dựng Đảng lâu dài. Xuyên suốt các văn kiện là sự kiên định các vấn đề nguyên tắc, giá trị cốt lõi, đồng thời là sự bổ sung, phát triển tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng ta.

Kiên định bản chất cách mạng, mục tiêu, nguyên tắc; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân: sợi chỉ đỏ xuyên suốt các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4

Thứ nhất, kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thống nhất giữa kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc nền tảng, xuyên suốt trong tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4. Bởi vậy, xây dựng Đảng vững mạnh trước hết phải xây dựng sự vững vàng về chính trị, tư tưởng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị không chỉ biểu hiện ở việc hoài nghi, xa rời mục tiêu, lý tưởng, mà còn ở thái độ coi nhẹ học tập lý luận, thiếu trách nhiệm, né tránh đấu tranh, nói không đi đôi với làm, đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung. Khi lý tưởng không còn định hướng hành động, quyền lực dễ bị sử dụng sai mục đích, kỷ luật dễ bị xem nhẹ, trách nhiệm phụng sự có nguy cơ bị thay thế bởi động cơ vụ lợi. Vì vậy, giáo dục chính trị, tư tưởng phải gắn với rèn luyện bản lĩnh, đạo đức và trách nhiệm thực tiễn; giúp cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc mục tiêu phấn đấu, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân và những chuẩn mực chi phối hành động.

Tuy nhiên, kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, giáo điều. Sự thống nhất biện chứng ấy đòi hỏi nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận, dự báo, hoạch định đường lối, tổ chức thực hiện; tôn trọng tìm tòi khoa học, kịp thời điều chỉnh những nhận thức không còn đáp ứng yêu cầu phát triển. Giá trị của sự kiên định phải được khẳng định bằng cả lập luận khoa học và kết quả thực tiễn: giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa; giải quyết hiệu quả những vấn đề của đất nước; nâng cao đời sống nhân dân. Đó là cách bảo vệ nền tảng tư tưởng có sức thuyết phục và sức sống bền vững nhất.

Thứ hai, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng trong điều kiện cầm quyền.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sức mạnh của một chính đảng cách mạng gắn liền với nền tảng tư tưởng, mục tiêu chính trị, tính tổ chức, kỷ luật và quan hệ mật thiết với quần chúng. Tư tưởng Hồ Chí Minh làm sâu sắc hơn yêu cầu Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người phục vụ nhân dân. Giữ vững bản chất đó đòi hỏi đường lối và hành động của Đảng hướng tới giải phóng, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, chống quan liêu, đặc quyền, đặc lợi.

Tính tiên phong của Đảng phải được thể hiện toàn diện. Tiên phong về chính trị là có bản lĩnh, tầm nhìn và đường lối đúng đắn; tiên phong về trí tuệ là nhận thức đúng quy luật, chủ động khai mở tư duy và định hướng phát triển; tiên phong về đạo đức là liêm chính, gương mẫu, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; tiên phong trong hành động là nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ khó. Các phương diện ấy gắn bó hữu cơ: bản lĩnh chính trị cần được nâng đỡ bởi trí tuệ; trí tuệ phải được định hướng bởi đạo đức; phẩm chất và năng lực phải được chứng minh bằng hành động, kết quả cống hiến. Trong điều kiện cầm quyền, nguy cơ suy giảm bản chất cách mạng có thể nảy sinh ngay từ quá trình thực thi quyền lực. Vị thế lãnh đạo của Đảng phải luôn thống nhất với trách nhiệm trước đất nước, với năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn và hiệu quả phụng sự nhân dân.

Thứ ba, coi tự đổi mới, tự chỉnh đốn là yêu cầu thường xuyên, bảo đảm sức sống và năng lực phát triển của Đảng.

Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng hạn chế, khuyết điểm, nhận diện nguyên nhân và xác định trách nhiệm khắc phục là điểm nhất quán qua các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4. Đối với đảng cầm quyền, khi quyền lực có thể làm phát sinh quan liêu, xa dân và thành tựu có thể dẫn tới chủ quan, tự đổi mới, tự chỉnh đốn càng phải trở thành yêu cầu tự thân, thường xuyên. Tự đổi mới và tự chỉnh đốn là hai mặt thống nhất. Tự chỉnh đốn nhằm sửa chữa khuyết điểm, chấn chỉnh lệch lạc, ngăn chặn suy thoái, giữ nghiêm nguyên tắc và kỷ luật. Đổi mới tạo động lực phát triển; chỉnh đốn giữ vững nền tảng chính trị, đạo đức, tổ chức để đổi mới đúng hướng. Chỉnh đốn không chỉ nhằm loại bỏ cái sai, mà còn phải khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu, năng lực sáng tạo; đổi mới không chỉ nhằm tăng hiệu quả, mà còn phải củng cố bản chất cách mạng và quan hệ với nhân dân. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thái độ đối với khuyết điểm là thước đo bản lĩnh và sự trưởng thành của Đảng. Nhận khuyết điểm phải đi liền với phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm, sửa chữa và kiểm tra kết quả. Tự đổi mới, tự chỉnh đốn vì thế không phải hoạt động nhất thời, mà là phương thức để Đảng giữ vững sức chiến đấu, không ngừng tự hoàn thiện trước yêu cầu mới.

Thứ tư, kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm và kiểm soát quyền lực.

Kiên định và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động là điều kiện bảo đảm bản chất cách mạng, tính tiên phong, sức mạnh tổ chức và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách không chỉ là những quy tắc tổ chức, mà còn là cơ chế tạo nên sự thống nhất ý chí, hành động. Xuyên suốt các Hội nghị Trung ương 4, yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ vững nguyên tắc, mà còn hoàn thiện cách thức thực hiện để nguyên tắc thực sự điều chỉnh các quan hệ trong Đảng, quá trình hình thành quyết định và việc thực thi quyền lực.

Tập trung dân chủ thể hiện sự thống nhất giữa phát huy trí tuệ tập thể với bảo đảm lãnh đạo tập trung, thống nhất; giữa quyền thảo luận với trách nhiệm chấp hành; giữa quyết định của tập thể với trách nhiệm của cá nhân. Tập trung kết tinh trí tuệ tập thể thành ý chí chung, bảo đảm quyết định được tổ chức thực hiện thống nhất. Vì vậy, phải đồng thời khắc phục dân chủ hình thức, tập trung quan liêu và việc lợi dụng dân chủ để làm suy yếu đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương. Đặc biệt, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phải được cụ thể hóa bằng phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát quyền lực. Kiên định nguyên tắc không đồng nghĩa với cứng nhắc; đổi mới cách thực hiện không có nghĩa là buông lỏng nguyên tắc. Giá trị của nguyên tắc chỉ được khẳng định khi chuyển hóa thành dân chủ thực chất, kỷ luật nghiêm minh, trách nhiệm rõ ràng, quyền lực được kiểm soát và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Tự phê bình và phê bình phải trở thành phương thức tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng. Đoàn kết chân chính đòi hỏi tôn trọng sự thật, bảo vệ lẽ phải, thẳng thắn chỉ ra cái sai để đạt tới sự thống nhất cao hơn về nhận thức và hành động.

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; đề cao trách nhiệm nêu gương, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Bởi vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn chặt với xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ; đạo đức và tính văn minh của Đảng trước hết phải được thể hiện ở sự liêm chính, gương mẫu, tận tụy của cán bộ, đảng viên.

Qua các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4, tư duy về công tác cán bộ phát triển từ ngăn chặn suy thoái, đề cao nêu gương đến hoàn thiện cơ chế lựa chọn, đánh giá, sử dụng, giám sát, sàng lọc cán bộ và kiểm soát quyền lực. Quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng cao; chức vụ càng quan trọng, yêu cầu nêu gương càng nghiêm ngặt. Sự gương mẫu của người đứng đầu tạo chuẩn mực hành động và văn hóa trách nhiệm; sự thiếu gương mẫu có thể làm suy giảm hiệu lực kỷ luật và niềm tin của nhân dân. Yêu cầu cốt lõi là giải quyết hài hòa quan hệ giữa đức và tài, giáo dục và kiểm soát, trao quyền và ràng buộc trách nhiệm, khuyến khích sáng tạo và xử lý vi phạm. Tự giác tu dưỡng phải đi đôi với kiểm tra, giám sát; đánh giá cán bộ phải căn cứ phẩm chất, năng lực, uy tín và kết quả công việc; bố trí, sử dụng phải công tâm, đúng người, đúng việc. Kiểm soát quyền lực không chỉ để phát hiện, xử lý sai phạm, mà quan trọng hơn là phòng ngừa từ sớm, từ xa thông qua cơ chế tổ chức, phân định thẩm quyền và trách nhiệm giải trình. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân phải đi vào những quan hệ cụ thể giữa quyền lực và lợi ích, công vụ và quan hệ thân quen, trách nhiệm tổ chức và động cơ cá nhân. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ có đạo đức, năng lực, bản lĩnh, khát vọng cống hiến, đồng thời chịu sự ràng buộc nghiêm minh của kỷ luật và cơ chế kiểm soát quyền lực; bảo đảm chức vụ gắn với trách nhiệm, uy tín gắn với kết quả phục vụ nhân dân.

Thứ sáu, xây dựng Đảng vì nhân dân, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Xây dựng Đảng vì nhân dân, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân là yêu cầu xuyên suốt, bắt nguồn từ bản chất cách mạng, mục tiêu và cội nguồn sức mạnh của Đảng. Đây đồng thời là thước đo bản chất cách mạng, trách nhiệm cầm quyền và hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Giữ vững quan hệ mật thiết với nhân dân luôn gắn với yêu cầu ngăn chặn suy thoái, khắc phục quan liêu, xa dân, nâng cao trách nhiệm nêu gương và kiểm soát quyền lực. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng không chỉ được thể hiện ở sự thống nhất tư tưởng, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, mà phải được kiểm nghiệm bằng năng lực giải quyết vấn đề của đất nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, hạnh phúc của nhân dân. Chủ trương đúng phải trở thành kết quả phát triển, tiến bộ, công bằng xã hội và những lợi ích thiết thực mà nhân dân được thụ hưởng.

Dựa vào nhân dân không chỉ là vận động, tập hợp sức mạnh thực hiện đường lối, mà còn phải phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, kinh nghiệm và sức sáng tạo của nhân dân trong hoạch định, thực hiện, hoàn thiện chủ trương, chính sách. Nhân dân vừa tham gia thực hiện, vừa cung cấp tri thức thực tiễn, phản ánh những bất cập và kiểm nghiệm hiệu quả lãnh đạo. Thông tin từ đời sống giúp Đảng nhận diện khoảng cách giữa chủ trương và kết quả, đánh giá phẩm chất, năng lực cán bộ, từ đó tự điều chỉnh, tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Chịu sự giám sát của nhân dân là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm cầm quyền, đồng thời là cơ chế phòng ngừa tha hóa quyền lực. Phải chuyển từ lắng nghe sang giải quyết, từ tiếp thu sang sửa chữa, từ nhận diện hạn chế sang xác định trách nhiệm. Niềm tin của nhân dân được bồi đắp không phải bằng lời nói, mà bằng sự công tâm, liêm chính, tận tụy của cán bộ, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và những chuyển biến cụ thể trong đời sống.

Kiên định, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện: Sợi chỉ đỏ xuyên suốt và sự phát triển tư duy xây dựng Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, XII, XIII, XIV - 1

Chất lượng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ phụ thuộc vào sự trong sạch của tổ chức đảng, mà còn gắn với năng lực thể chế hóa, quản lý, điều hành, phối hợp và phục vụ nhân dân (Đội ngũ công chức xã Nha Bích, tỉnh Đồng Nai làm việc tại Trung tâm phục vụ hành chính công) (Ảnh: Tư liệu).

Sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các Hội nghị Trung ương 4 từ khóa XI đến khóa XIV

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI: Từ nhận diện nguy cơ đến tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, gắn chỉnh đốn Đảng với trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, ra đời khi công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu quan trọng nhưng công tác xây dựng Đảng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân đã ảnh hưởng đến uy tín, sức chiến đấu của Đảng và niềm tin của nhân dân.

Điểm nổi bật trước hết là bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện những nguy cơ từ bên trong đối với một đảng cầm quyền. Tự chỉnh đốn vì vậy không đơn thuần nhằm sửa chữa khuyết điểm, mà còn là yêu cầu tự bảo vệ, tự phát triển, giữ vững vai trò lãnh đạo và củng cố niềm tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy, Nghị quyết xác định ba vấn đề cấp bách: ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong quan hệ với tập thể. Trong đó, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Ba vấn đề liên hệ chặt chẽ, cùng ảnh hưởng đến hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền.

Bước phát triển đáng chú ý là đặt trách nhiệm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trước hết vào các cấp lãnh đạo, nhất là cán bộ giữ chức vụ cao. Nếu người đứng đầu thiếu tự giác, không dám nhận trách nhiệm, kiểm điểm dễ hình thức và khuyết điểm khó được khắc phục triệt để. Về phương pháp, Nghị quyết kết hợp giáo dục, rèn luyện với kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; phát huy tự phê bình và phê bình như phương thức để mỗi tổ chức, cá nhân tự nhận diện, sửa chữa khuyết điểm. Đấu tranh với cái sai không nhằm phủ nhận thành tựu, mà để củng cố đoàn kết trên cơ sở nguyên tắc, nâng cao sức chiến đấu. Đồng thời, yêu cầu làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu tạo tiền đề cho việc hoàn thiện cơ chế phân định trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và giải trình ở các giai đoạn sau.

Có thể khái quát, dấu ấn của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI là chuyển nhận thức về nguy cơ suy thoái thành quyết tâm chính trị và chương trình chỉnh đốn có trọng tâm; đặt vấn đề đạo đức và trách nhiệm cán bộ trong một chỉnh thể; khẳng định tự chỉnh đốn là điều kiện bảo vệ bản chất cách mạng, uy tín và sức mạnh của Đảng cầm quyền.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII: Từ xác định những vấn đề cấp bách đến nhận diện có hệ thống biểu hiện suy thoái, chủ động ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Kế thừa Nghị quyết Hội nghịTrung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Hội nghịTrung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”” đánh dấu bước phát triển về chiều sâu nhận thức, tính cụ thể trong nhận diện nguy cơ và tính đồng bộ của giải pháp.

Điểm mới nổi bật là chuyển từ nhận diện khái quát tình trạng suy thoái sang chỉ rõ 27 biểu hiện thuộc ba nhóm: suy thoái về tư tưởng chính trị; suy thoái về đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc cụ thể hóa này chuyển yêu cầu mang tính nguyên tắc thành căn cứ để tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, kiểm điểm, đánh giá, kiểm tra và giám sát; khắc phục tình trạng thấy rõ nguy cơ chung nhưng khó nhận diện biểu hiện cụ thể trong tổ chức và bản thân mình. Chiều sâu của bước phát triển nằm ở nhận thức về tính quá trình và sự tác động qua lại giữa các biểu hiện suy thoái. Theo đó, chỉnh đốn Đảng không thể chỉ xử lý hành vi vi phạm đã xảy ra, mà phải chủ động nhận diện biến đổi trong nhận thức, động cơ, thái độ, hành động; phòng ngừa từ sớm, từ xa, không để hạn chế nhỏ trở thành sai phạm nghiêm trọng.

Một bước phát triển khác là kết hợp chặt chẽ giáo dục, rèn luyện, tự phê bình và phê bình với hoàn thiện cơ chế, chính sách, kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Cách tiếp cận này phản ánh nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa phẩm chất cá nhân và môi trường tổ chức. Vì vậy, phòng, chống suy thoái phải tác động đồng thời vào nhận thức, động cơ, hành vi và những điều kiện làm phát sinh sai phạm; kết hợp giáo dục với cơ chế ràng buộc, tự giác với kiểm tra, giám sát.

Nghị quyết tiếp tục đề cao trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu. Nêu gương không chỉ là phẩm chất đạo đức cá nhân, mà còn là phương thức lãnh đạo có sức thuyết phục, tạo chuẩn mực hành động và lan tỏa trong tổ chức. Đồng thời, vai trò giám sát của nhân dân được gắn chặt hơn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần phát hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, nâng cao tính khách quan của kiểm tra, giám sát.

Như vậy, Nghị quyết Hội nghịTrung ương 4 khóa XII phát triển tư duy từ xác định vấn đề cấp bách đến nhận diện có hệ thống biểu hiện, nguyên nhân và nguy cơ; từ chú trọng tự giác tu dưỡng sang kết hợp giáo dục, thể chế, kiểm tra, kỷ luật và giám sát xã hội. Đó là bước tiến về tính chủ động, tính hệ thống và khả năng phòng ngừa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII: Từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”

Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” đánh dấu bước phát triển về phạm vi, đối tượng, phương thức và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nổi bật trước hết là mở rộng từ xây dựng, chỉnh đốn trong Đảng sang xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị. Do đó, chất lượng lãnh đạo, cầm quyền không chỉ phụ thuộc vào sự trong sạch của tổ chức đảng, mà còn gắn với năng lực thể chế hóa, quản lý, điều hành, phối hợp và phục vụ nhân dân. Những bất cập về tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm, phối hợp công tác, quản lý nguồn lực và thực thi công vụ có thể làm giảm hiệu quả lãnh đạo, đồng thời tạo điều kiện phát sinh tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng phải được thể hiện trong chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị và hiệu quả giải quyết vấn đề của đất nước, của nhân dân.

Điểm phát triển thứ hai là nhấn mạnh sự thống nhất giữa “xây” và “chống”: xây dựng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách. “Chống” nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý sai phạm, bảo vệ kỷ luật, kỷ cương và sự trong sạch của Đảng; “xây” nhằm củng cố nền tảng tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực tổ chức, văn hóa liêm chính và môi trường để cán bộ phấn đấu, cống hiến. Nếu chỉ chú trọng “chống”, chỉnh đốn dễ thiên về xử lý hậu quả mà chưa tạo nền tảng phát triển; nếu chỉ chú trọng “xây”, thiếu kiên quyết trong “chống” sẽ làm suy giảm tính nghiêm minh và sức chiến đấu. Hai mặt phải bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau: loại bỏ nhân tố làm suy yếu đồng thời bồi đắp nhân tố tạo sức mạnh của Đảng.

Đáng chú ý, Kết luận nhấn mạnh yêu cầu không chỉ ngăn chặn, đẩy lùi mà còn kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái. Tinh thần ấy thể hiện quyết tâm đưa yêu cầu chỉnh đốn thành hành động và trách nhiệm cụ thể. Đồng thời, vai trò của nhân dân được khẳng định không chỉ với tư cách đối tượng phục vụ, mà còn là chủ thể giám sát, phản ánh, góp ý, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Có thể khái quát, Nghị quyết Hội nghịTrung ương 4 khóa XIII đánh dấu sự phát triển từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị; từ ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đến kết hợp xây dựng, phòng ngừa và xử lý nghiêm; từ chú trọng sự trong sạch của tổ chức đến gắn sự trong sạch với hiệu quả vận hành và phục vụ nhân dân. Đó là tiền đề quan trọng để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong giai đoạn mới.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV: Từ ngăn chặn suy thoái đến nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh

Kế thừa các nghị quyết, kết luận Hội nghịTrung ương 4 khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới” đặt ra những yêu cầu phát triển cao hơn, toàn diện hơn trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới. Nếu khóa XI tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách, khóa XII cụ thể hóa biểu hiện suy thoái, khóa XIII mở rộng xây dựng, chỉnh đốn đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị, thì khóa XIV tiếp tục phát triển tư duy theo hướng không chỉ ngăn ngừa, khắc phục những nhân tố làm suy yếu, mà còn chủ động bồi đắp sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh, năng lực cầm quyền và khả năng tự hoàn thiện của Đảng. Có thể khái quát trên sáu phương diện chủ yếu.

Một là, từ yêu cầu thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn đến nâng cao năng lực tự hoàn thiện, coi đó là nhu cầu tự thân và năng lực nội sinh của Đảng.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn là yêu cầu xuyên suốt, nhưng trong điều kiện mới không thể chỉ tiến hành những đợt chỉnh đốn khi đã xuất hiện hạn chế, khuyết điểm. Một quy trình đúng quy định nhưng thiếu hiệu quả vẫn cần đổi mới; một phương thức lãnh đạo không còn phù hợp phải được điều chỉnh; một cán bộ không vi phạm nhưng chưa đáp ứng nhiệm vụ phải được bồi dưỡng hoặc bố trí phù hợp. Theo đó, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện phải trở thành hoạt động thường xuyên, được bảo đảm bằng cơ chế tự kiểm tra, tự đánh giá, tiếp nhận phản hồi và tổng kết thực tiễn. Mỗi khuyết điểm được khắc phục phải tạo tiến bộ về năng lực; mỗi bài học thực tiễn cần chuyển hóa thành sự hoàn thiện về cơ chế, quy trình, phương thức lãnh đạo. Chiều sâu của bước phát triển này là chuyển từ tư duy sửa chữa khiếm khuyết sang chủ động nâng cao chất lượng và sức sống của Đảng; từ chỉnh đốn khi có vấn đề sang hình thành năng lực tự hoàn thiện liên tục, bền vững.

Hai là, từ xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đến gắn chặt với nâng cao chất lượng lãnh đạo, cầm quyền và năng lực kiến tạo phát triển đất nước.

Trong điều kiện cầm quyền, sự trong sạch, vững mạnh không chỉ thể hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức, tổ chức, kỷ luật, mà còn phải được kiểm nghiệm bằng năng lực hoạch định đường lối, chất lượng quyết sách, hiệu quả tổ chức thực hiện và kết quả xây dựng, phát triển đất nước. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền bao quát toàn bộ quá trình nhận diện vấn đề, dự báo xu thế, xác định mục tiêu, lựa chọn phương án, thể chế hóa, huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện và điều chỉnh. Mỗi khâu có thể tạo động lực hoặc trở thành điểm nghẽn nếu thiếu tầm nhìn, năng lực và trách nhiệm thực thi.

Vì vậy, xây dựng Đảng phải gắn với nâng cao tư duy chiến lược, năng lực tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, dự báo, hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện. Chất lượng tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ được đánh giá qua việc chấp hành quy định, hoàn thành quy trình, mà còn qua khả năng giải quyết vấn đề, tháo gỡ điểm nghẽn, sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy phát triển và nâng cao đời sống Nhân dân. Bước phát triển quan trọng là gắn xây dựng Đảng với năng lực lãnh đạo phát triển, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và hiệu quả phụng sự nhân dân làm những căn cứ quan trọng kiểm nghiệm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Ba là, từ xây dựng Đảng về đạo đức đến xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh, nâng cao văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và tính liêm chính.

Xây dựng Đảng về đạo đức không thể chỉ dừng ở giáo dục, rèn luyện phẩm chất từng cá nhân, mà phải làm cho chuẩn mực đạo đức và văn hóa lãnh đạo, cầm quyền thấm sâu vào cơ chế, quy trình, hoạt động của tổ chức. Liêm chính không chỉ là đức tính cán bộ, mà phải trở thành đặc tính của tổ chức; trách nhiệm không chỉ là lời cam kết, mà phải thể hiện trong từng công việc; văn minh không chỉ ở phương tiện hiện đại, mà trước hết ở tư duy khoa học, trí tuệ, tầm nhìn trong các quyết sách, phương pháp dân chủ, minh bạch, tôn trọng thực tiễn và nhân dân. Đạo đức xác định mục tiêu, động cơ và giới hạn của việc sử dụng quyền lực; văn minh nâng cao trí tuệ, trình độ và phương pháp thực hiện mục tiêu ấy. Chiều sâu của bước phát triển là chuyển từ nhấn mạnh tu dưỡng cá nhân sang đồng thời xây dựng văn hóa liêm chính và trình độ văn minh của tổ chức, làm cho đạo đức cách mạng và phương pháp lãnh đạo khoa học trở thành những thuộc tính bền vững của Đảng.

Bốn là, từ đề cao trách nhiệm cán bộ đến kiểm soát quyền lực gắn với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi.

Kiểm soát quyền lực là yêu cầu khách quan đối với đảng cầm quyền. Quyền lực thiếu ràng buộc bằng trách nhiệm, kỷ luật, giám sát dễ bị lạm dụng; ngược lại, trách nhiệm không gắn với thẩm quyền rõ ràng dễ dẫn đến né tránh, đùn đẩy hoặc khó xác định người chịu trách nhiệm. Vì vậy, kiểm soát quyền lực phải đồng bộ với phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng tổ chức, cá nhân; làm rõ trách nhiệm trong từng khâu tham mưu, đề xuất, thẩm định, quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá. Cần khắc phục tình trạng quyền hạn tập trung nhưng trách nhiệm phân tán, tập thể quyết định nhưng không xác định được trách nhiệm cá nhân. Bước phát triển về tư duy là chuyển từ đề cao trách nhiệm và phòng ngừa lạm quyền sang kiểm soát toàn bộ quá trình thực thi quyền lực, bảo đảm quyền lực được trao đúng, sử dụng đúng, kiểm soát chặt chẽ và gắn với giải trình thực chất.

Năm là, từ xử lý vi phạm, khắc phục hậu quả đến chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, kết hợp giữ nghiêm kỷ cương với khuyến khích, bảo vệ đổi mới, sáng tạo.

Phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực chỉ bền vững khi không dừng ở phát hiện, xử lý vi phạm, mà chủ động nhận diện và loại bỏ nguyên nhân, điều kiện phát sinh sai phạm. Sau mỗi vụ việc, cùng với xử lý trách nhiệm cá nhân, cần rà soát bất cập trong cơ chế, chính sách, quy trình quản lý, giám sát để ngăn ngừa tái diễn. Phòng ngừa hiệu quả đòi hỏi kết hợp giáo dục đạo đức, xây dựng văn hóa liêm chính với minh bạch hóa quy trình, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương phải đồng thời tạo môi trường để cán bộ có năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm chủ động đổi mới vì lợi ích chung. Những nhiệm vụ mới, khó, chưa có tiền lệ đòi hỏi sự tìm tòi, quyết đoán và chấp nhận rủi ro được kiểm soát. Điểm phát triển là kết hợp phòng ngừa, kiểm soát, xử lý sai phạm với kiến tạo môi trường cống hiến, để kỷ cương vừa bảo vệ sự trong sạch, vừa nâng cao năng lực hành động của Đảng.

Sáu là, từ phát huy vai trò giám sát của nhân dân đến coi sự tham gia, phản hồi và mức độ hài lòng của nhân dân là nguồn lực quan trọng để Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện.

Bản chất cách mạng và mục tiêu phụng sự nhân dân đòi hỏi Đảng giữ vững quan hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, tiếp nhận ý kiến phải gắn với xác minh, xử lý, phản hồi và điều chỉnh thực chất; chuyển từ lắng nghe sang giải quyết, từ tiếp thu sang sửa chữa, từ phát hiện hạn chế sang xác định trách nhiệm và hành động. Chất lượng cuộc sống, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, sự đồng thuận và niềm tin xã hội là những căn cứ quan trọng kiểm nghiệm hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng phải được thể hiện bằng kết quả phát triển, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và lợi ích thiết thực nhân dân thụ hưởng. Chiều sâu của bước phát triển này là làm cho quan hệ mật thiết với nhân dân không chỉ là yêu cầu về bản chất, mục tiêu và phương pháp lãnh đạo, mà còn trở thành cơ chế thường xuyên để Đảng tự nhận diện, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện mình.

Nhìn tổng thể, các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4 từ khóa XI đến khóa XIV thể hiện sự phát triển tư duy xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng chủ động, toàn diện, hệ thống và thực chất: Từ giải quyết vấn đề cấp bách đến nhận diện, phòng ngừa có hệ thống nguy cơ; từ chỉnh đốn trong Đảng đến xây dựng đồng bộ Đảng và hệ thống chính trị; từ ngăn chặn suy thoái đến nâng cao năng lực tự hoàn thiện; từ kiểm soát quyền lực đến kết hợp kỷ cương với thúc đẩy sáng tạo; từ xây dựng Đảng về đạo đức đến hướng tới xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh. Điểm xuyên suốt là kiên định để đổi mới đúng hướng, đổi mới để phát huy bản chất cách mạng; chỉnh đốn để bảo vệ sự trong sạch, xây dựng để nâng cao năng lực, tự hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đó là sự thống nhất giữa kiên định và sáng tạo, giữa xây dựng và chỉnh đốn, giữa giữ vững bản chất cách mạng với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, để Đảng luôn xứng đáng với trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân./. 

PGS, TS Dương Trung Ý

Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Theo https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/kien-dinh-tu-doi-moi-tu-chinh-don-tu-hoan-thien-soi-chi-do-xuyen-suot-va-su-phat-trien-tu-duy-xay-dung-dang-qua-cac-hoi-nghi-trung-uong-4-khoa-xi-xii-

Các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII và XIV là những dấu mốc then chốt, thể hiện bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật cùng quyết tâm khắc phục khuyết điểm của Đảng. Xuất phát từ thực tiễn từng nhiệm kỳ, các nghị quyết vừa giải quyết nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa phát triển tư duy xây dựng và chỉnh đốn Đảng lâu dài. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt các văn kiện là nguyên tắc kiên định bản chất cách mạng, thường xuyên tự đổi mới nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền. Trọng tâm cốt lõi trước hết là kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị thường biểu hiện ở việc hoài nghi lý tưởng, né tránh đấu tranh, coi nhẹ kỷ luật và đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung. Do đó, công tác giáo dục chính trị phải gắn liền với rèn luyện đạo đức thực tiễn, giúp cán bộ nhận thức rõ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Bên cạnh đó, kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ hay giáo điều mà luôn thống nhất biện chứng với tinh thần vận dụng sáng tạo. Đảng chú trọng nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và điều chỉnh kịp thời những nhận thức không còn phù hợp. Giá trị của sự kiên định được khẳng định vững chắc thông qua kết quả giữ vững độc lập, nâng cao đời sống nhân dân và bảo vệ bản chất giai cấp công nhân trong điều kiện cầm quyền.
amung