Bỏ qua điều hướng

Kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm

Kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Luật Công nghiệp trọng điểm được xây dựng nhằm thúc đẩy, kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm phù hợp bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm [Video] Quyết liệt tr...

Luật Công nghiệp trọng điểm được xây dựng nhằm thúc đẩy, kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm phù hợp bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; hướng đến xây dựng nền công nghiệp độc lập, tự chủ, tự cường góp phần phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Các chính sách, quy định trong Luật Công nghiệp trọng điểm mang tính đột phá, xử lý các điểm nghẽn cơ bản trong phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm theo hướng chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam; đồng thời có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, tạo đột phá về hiện đại hóa trong công nghiệp.

Chính sách còn dàn trải

Những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt trong xây dựng, hoàn thiện và thực thi có hiệu quả chính sách, pháp luật về phát triển công nghiệp mang lại những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội nói chung và phát triển các ngành công nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, theo Bộ Công thương, vẫn còn những hạn chế như chưa có hành lang pháp lý xác định rõ trọng tâm phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm trong quá trình công nghiệp hóa.

Mặc dù hiện tại một số lĩnh vực cụ thể như hóa chất, công nghiệp công nghệ số, điện lực, khai thác khoáng sản,… đã có luật điều chỉnh; một số ngành công nghiệp chuyên ngành khác như công nghiệp môi trường, công nghiệp đường sắt, công nghiệp hàng không, sản xuất UAV,… cũng đã có trong các đạo luật quản lý chuyên ngành; nhưng chưa có một đạo luật quy định các chính sách đặc thù phát triển nhiều ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên theo định hướng (như cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu, công nghiệp sinh học,…), dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, bền vững cho các ngành này.

Có thể thấy, chính sách, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp còn dàn trải, chưa có quy định xác định các ngành công nghiệp trọng điểm, then chốt cùng chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển; đồng thời, chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tế và thiếu nguồn lực để thực hiện có hiệu quả.

Có thể thấy, chính sách, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp còn dàn trải, chưa có quy định xác định các ngành công nghiệp trọng điểm, then chốt cùng chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển; đồng thời, chưa thật sự phù hợp với yêu cầu thực tế và thiếu nguồn lực để thực hiện có hiệu quả. Đơn cử, sau gần 20 năm thực hiện chính sách hỗ trợ của Chương trình cơ khí trọng điểm theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg, mới có 11 dự án được xem xét hưởng chính sách tín dụng ưu đãi 9.978,18 tỷ đồng; trong đó, chỉ có 3 dự án ký được hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) với số vốn 374 tỷ đồng (bằng 3,75% số vốn được xem xét) và thực tế mới giải ngân được 60,75 tỷ đồng (16% hợp đồng đã ký).

Trong khi đó, xu thế chung của các quốc gia như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều có chính sách mạnh mẽ để bảo hộ và thúc đẩy phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng, thiết yếu. Điều này đặt nước ta vào thách thức trong thu hút đầu tư cũng như tính cạnh tranh bị hạn chế khi gia nhập thị trường quốc tế. Rõ ràng, bối cảnh các quốc gia trên thế giới gia tăng sử dụng chính sách công nghiệp với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ đã và đang đặt ra yêu cầu Việt Nam cũng cần có những chính sách kịp thời, khéo léo để theo kịp xu thế đó.

Bổ sung nhiều cơ chế đặc thù

Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số, yêu cầu: Xây dựng và hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh; tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số, sinh học, công nghiệp phụ trợ gắn với tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Trước thực trạng ngành công nghiệp trong nước cũng như tiếp thu kinh nghiệm của các quốc gia phát triển công nghiệp, thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Công thương đã xây dựng và trình Quốc hội Dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm.

Dự thảo được cấu trúc với mục tiêu trung tâm là phát triển năng lực công nghiệp quốc gia; bổ sung nhiều cơ chế về doanh nghiệp công nghiệp trọng điểm, nhà đầu tư chiến lược, cam kết phát triển công nghiệp, dự án đối ứng, tổ hợp công nghiệp trọng điểm, công nghiệp ngoài khơi, đất hiếm và vật liệu chiến lược cùng các công cụ tài chính phát triển công nghiệp trọng điểm.

Cục trưởng Công nghiệp (Bộ Công thương) Trần Việt Hòa

Cục trưởng Công nghiệp (Bộ Công thương) Trần Việt Hòa cho biết, dự thảo được cấu trúc với mục tiêu trung tâm là phát triển năng lực công nghiệp quốc gia; bổ sung nhiều cơ chế về doanh nghiệp công nghiệp trọng điểm, nhà đầu tư chiến lược, cam kết phát triển công nghiệp, dự án đối ứng, tổ hợp công nghiệp trọng điểm, công nghiệp ngoài khơi, đất hiếm và vật liệu chiến lược cùng các công cụ tài chính phát triển công nghiệp trọng điểm. Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các ngành công nghiệp trọng điểm, dự thảo luật thiết lập cơ chế đặt hàng, đấu thầu, giao nhiệm vụ, chỉ định thầu cung cấp sản phẩm, cơ chế nội địa hóa trong các dự án trọng điểm để bảo đảm nâng cao năng lực tự chủ sản xuất trong nước.

Dự thảo cũng quy định các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đối với nhà cung cấp nhận đặt hàng và chỉ định thầu, nhà đầu tư thực hiện dự án trọng điểm. Các quy định này nhằm tạo công cụ đủ mạnh để hình thành năng lực công nghiệp lõi trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu và tăng mức độ tự chủ của nền kinh tế. Đặc biệt, dự thảo đã bổ sung nhiều nội dung mới như cơ chế hỗ trợ sản xuất sản phẩm đầu tiên, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) hay lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài gắn với các cam kết cụ thể về hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, tăng chi cho nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao,… Đây là cách tiếp cận theo hướng đổi ưu đãi lấy cam kết phát triển năng lực nội sinh, góp phần nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài theo chiều sâu. Việc thông qua và thực thi Luật Công nghiệp trọng điểm thời gian tới chắc chắn sẽ là cú huých lớn cho các ngành công nghiệp trọng điểm, tạo đà để đất nước phát triển bứt phá.

Chí Công

Luật Công nghiệp trọng điểm được xây dựng trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phát triển nhanh, tạo yêu cầu mới đối với quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam. Mục tiêu lớn là kiến tạo các ngành công nghiệp trọng điểm, xây dựng nền công nghiệp độc lập, tự chủ, tự cường, đóng góp cho tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Theo nội dung Nhân Dân phản ánh, dự luật hướng tới thay đổi cách phát triển công nghiệp, từ mở rộng quy mô sang nâng chiều sâu, chất lượng, công nghệ và năng lực làm chủ. Điểm đáng chú ý nằm ở định hướng chuyển từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất ngay tại Việt Nam, qua đó nâng giá trị trong chuỗi cung ứng. Các chính sách được kỳ vọng tạo bước tiến về hiện đại hóa, tăng hàm lượng tri thức, công nghệ cao, đồng thời mở thêm không gian cho đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Cách tiếp cận này nhằm xử lý những điểm nghẽn kéo dài, giúp công nghiệp trong nước không chỉ tham gia sản xuất theo đơn đặt hàng, mà còn từng bước làm chủ sản phẩm. Những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp xây dựng, hoàn thiện, thực thi chính sách pháp luật về phát triển công nghiệp, mang lại kết quả tích cực cho kinh tế xã hội. Tuy nhiên, Bộ Công thương cho rằng hệ thống hiện hành vẫn thiếu hành lang pháp lý xác định rõ trọng tâm, thứ tự ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm. Một số lĩnh vực như hóa chất, công nghiệp công nghệ số, điện lực, khai thác khoáng sản đã có luật điều chỉnh, nhưng bức tranh chung vẫn chưa thật sự thống nhất. Nhiều ngành chuyên ngành khác, gồm công nghiệp môi trường, công nghiệp đường sắt, công nghiệp hàng không và sản xuất UAV, cũng đã được đề cập trong các luật quản lý riêng. Dù vậy, Việt Nam chưa có đạo luật quy định chính sách đặc thù cho nhiều ngành nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên như cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu và công nghiệp sinh học. Khoảng trống này khiến các ngành quan trọng thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, ổn định, đủ sức huy động nguồn lực dài hạn, thay vì phụ thuộc vào những chính sách riêng lẻ. Thực tế cho thấy chính sách, chiến lược phát triển công nghiệp còn dàn trải, chưa xác định rõ ngành then chốt, cũng chưa gắn đầy đủ với nguồn lực thực hiện. Một ví dụ được nêu là Chương trình cơ khí trọng điểm, triển khai theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg. Sau gần 20 năm, chỉ có 11 dự án được xem xét hưởng chính sách tín dụng ưu đãi với tổng số tiền 9.978,18 tỷ đồng, cho thấy khoảng cách lớn giữa chủ trương và triển khai. Trong số đó, chỉ ba dự án ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam, gọi tắt VDB, với số vốn 374 tỷ đồng, tương đương 3,75% số tiền được xem xét. Thực tế giải ngân còn khiêm tốn hơn, khi mới đạt 60,75 tỷ đồng, bằng 16% giá trị các hợp đồng tín dụng đã ký, phản ánh vướng mắc trong tiếp cận chính sách. Trong khi đó, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều đang sử dụng chính sách mạnh để bảo hộ, thúc đẩy ngành công nghiệp quan trọng. Sự khác biệt này tạo sức ép với Việt Nam trong thu hút đầu tư, nâng năng lực cạnh tranh, nhất là khi doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế. Các quốc gia gia tăng hỗ trợ của chính phủ cho công nghiệp, đặt Việt Nam trước yêu cầu phải hành động kịp thời, linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tế. Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cũng đặt yêu cầu xây dựng, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Định hướng giai đoạn 2026-2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời yêu cầu nâng hiệu quả, sức cạnh tranh của nhiều ngành công nghiệp nền tảng. Danh sách được nêu gồm năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số, sinh học và công nghiệp phụ trợ. Vì vậy, Luật Công nghiệp trọng điểm được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý tập trung, phân bổ nguồn lực đúng hướng, giúp Việt Nam chuyển từ lắp ráp sang làm chủ công nghệ và sản xuất.