Theo các chuyên gia, Thành phố Hồ Chí Minh đang chịu áp lực lớn về môi trường và phát thải. Trong đó, phát thải từ lĩnh vực năng lượng cố định và giao thông chiếm hơn 93% tổng lượng phát thải khí nhà kính. Trong khi mức tiêu thụ năng lượng thuộc nhóm cao nhất cả nước, tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Những thực tế trên cho thấy, nếu không thay đổi cấu trúc phát triển, áp lực lên năng lượng, phát thải carbon, hạ tầng môi trường và chất lượng sống đô thị sẽ tiếp tục gia tăng cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và mở rộng tiêu dùng. Vì vậy, chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh cần được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc toàn diện hệ thống phát triển, thay vì chỉ dừng ở việc bổ sung các giải pháp môi trường đơn lẻ.
Bên cạnh những áp lực về môi trường và phát thải, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế tuần hoàn (ICED), Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đã hình thành một số nền tảng ban đầu như mô hình nông nghiệp tuần hoàn, sản xuất sạch hơn, tiêu dùng xanh và thí điểm khu công nghiệp sinh thái tại Khu công nghiệp Hiệp Phước.
Thành phố cũng có lợi thế về quy mô thị trường, hệ sinh thái doanh nghiệp, mạng lưới viện nghiên cứu, trường đại học, năng lực thử nghiệm chính sách và vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo của vùng. Đây là những tiền đề quan trọng để Thành phố từng bước chuyển từ các mô hình tuần hoàn riêng lẻ sang một chiến lược có tính hệ thống, với cơ chế tổ chức, bộ chỉ số đo lường và lộ trình triển khai, nhân rộng cụ thể.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Tú, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế tuần hoàn cho rằng, kinh tế tuần hoàn trong kỷ nguyên số không còn là lựa chọn phụ trợ của chính sách môi trường mà đang trở thành một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh đô thị, an ninh tài nguyên và chiến lược phát triển bền vững. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn gắn với chuyển đổi xanh chính là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng phát triển và xây dựng nền tảng cho một đô thị hiện đại, chống chịu tốt và có năng lực hội nhập cao hơn.
Để thực hiện điều này, thành phố cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý chất thải sang tư duy thiết kế lại hệ thống phát triển; từ các dự án rời rạc sang mô hình đô thị tuần hoàn số; từ quản lý theo ngành dọc sang điều hành bằng dữ liệu và cơ chế phối hợp liên ngành. Nếu có lộ trình phù hợp, lựa chọn đúng các lĩnh vực ưu tiên, tổ chức tốt các mô hình thí điểm và gắn chặt với chương trình khoa học, công nghệ cùng cơ chế đặc thù hiện có, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành địa phương đi đầu cả nước trong chuyển đổi xanh dựa trên kinh tế tuần hoàn.
Hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, các chuyên gia đề xuất, Thành phố Hồ Chí Minh cần hướng tới mô hình “đô thị tuần hoàn số”. Trong đó, việc quản lý tài nguyên, phát thải, năng lượng, giao thông, nước, chất thải và vật liệu được tích hợp trên nền tảng dữ liệu liên thông, thay vì được vận hành bởi các hệ thống đơn lẻ như hiện nay.
Về bản chất, đây là bước nâng cấp từ “thành phố thông minh” thuần túy, chủ yếu tối ưu dòng giao thông, dịch vụ công, an ninh sang “đô thị tuần hoàn số”, nơi các dòng vật chất (năng lượng, nước, nguyên vật liệu, sản phẩm, chất thải) được theo dõi, phân tích và điều phối thông qua hạ tầng số để đạt được cả mục tiêu kinh tế, môi trường và phúc lợi xã hội. Nhờ đó, thành phố có thể nhận diện các điểm nghẽn, điểm nóng phát thải, cũng như cơ hội cộng sinh giữa các ngành, khu vực và chủ thể một cách chủ động hơn, thay vì chỉ phản ứng khi sự cố môi trường đã xảy ra.
Để triển khai mô hình “đô thị tuần hoàn số” hiệu quả, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế tuần hoàn cùng các cộng sự, Thành phố Hồ Chí Minh cần sớm xây dựng bộ chỉ số điều hành kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh cấp thành phố. Bộ chỉ số này nên bao quát các lĩnh vực như năng lượng, giao thông, công nghiệp, nước-chất thải, tiêu dùng bền vững và đổi mới sáng tạo xanh… Bộ tiêu chí đủ chi tiết để vừa phản ánh xu hướng tổng thể, vừa chỉ ra được những “điểm nóng” và “điểm nghẽn” ở từng ngành và không gian phát triển.
Khi gắn bộ chỉ số này với hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và các chương trình đầu tư công, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có công cụ để ưu tiên nguồn lực cho những dự án, khu vực, chuỗi giá trị mang lại hiệu quả tuần hoàn cao, đồng thời tạo sức ép minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các chủ thể tham gia.
Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh cần gắn kinh tế tuần hoàn với chương trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố, nhất là trong các lĩnh vực dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công nghệ môi trường, công nghệ tái chế và hạ tầng đô thị thông minh. Điều này đòi hỏi thành phố thiết kế các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D), vườn ươm, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ gắn trực tiếp với các thách thức tuần hoàn cụ thể của đô thị, doanh nghiệp và cộng đồng.
Việc tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo cũng có ý nghĩa quan trọng trong hình thành hệ sinh thái cho kinh tế tuần hoàn. Qua đó, các giải pháp xanh có thêm điều kiện tiếp cận thị trường, đồng thời tạo nguồn nhân lực và đội ngũ chuyên gia liên ngành phục vụ quá trình chuyển đổi.
CAO TÂN-CTV