Tình trạng vô sinh muộn ngày càng gia tăng là thực tế đáng quan tâm, không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, trình độ chuyên môn và kỹ thuật điều trị vô sinh, hiếm muộn của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, tiệm cận với tiến bộ của thế giới.
Giáo sư Nguyễn Viết Tiến - Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy khi phát biểu tại Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 với chủ đề “Đồng hành cá thể hóa từng hành trình: Cùng chạm đến ước mơ làm cha mẹ,” do Hội Phụ sản Việt Nam (VAGO) phối hợp cùng Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản (IFFS) và Công ty TNHH Merck Healthcare Việt Nam tổ chức trong hai ngày (31/10-1/11) tại Hà Nội.
Vô sinh, hiếm muộn đang trở thành một trong những vấn đề sức khỏe sinh sản được quan tâm trên toàn cầu. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo vô sinh và hiếm muộn là căn bệnh nguy hiểm thứ 3, chỉ đứng sau ung thư và bệnh tim mạch ở thế kỷ 21.
Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn, tỷ lệ khoảng 7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8%. Trong số này, khoảng 50% là cặp vợ chồng ở độ tuổi dưới 30. Đặc biệt, tỷ lệ vô sinh thứ phát (vô sinh sau một lần có thai) đang gia tăng đến 15-20% sau mỗi năm và chiếm hơn 50% các cặp vợ chồng vô sinh.
Thống kê của Bộ Y tế cũng cho thấy công tác dân số hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, điển hình là mức sinh thay thế chưa thực sự bền vững. Tổng tỷ suất sinh năm 2025 Việt Nam là 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với năm 2024 (1,91 con), song vẫn dưới mức sinh thay thế (2,1 con). Mức sinh thấp tác động trực tiếp, sâu sắc tới cơ cấu dân số, ảnh hưởng đến kinh tế, lao động, việc làm và an sinh xã hội.
Tình trạng vô sinh, hiếm muộn và mức sinh thấp đang đặt ra những thách thức đáng kể đối với cá nhân, gia đình cũng như công tác dân số và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, thúc đẩy tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ sinh sản và cập nhật những tiến bộ y khoa nhằm nâng cao hiệu quả điều trị có ý nghĩa ngày càng quan trọng.
Giáo sư Nguyễn Viết Tiến cho hay Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn khi mức sinh ngày càng thấp, trong khi tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn vẫn ở mức cao. Một trong những nguyên nhân là xu hướng kết hôn và sinh con muộn. Khi tuổi tăng, khả năng sinh sản của cả nam và nữ đều có thể suy giảm.
Bên cạnh đó, một bộ phận người dân còn tâm lý chủ quan, cho rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phát triển nên có thể trì hoãn việc sinh con mà không ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội làm cha mẹ. Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho rằng đây là quan niệm cần được nhìn nhận thận trọng, bởi tiến bộ kỹ thuật không thể loại bỏ hoàn toàn những giới hạn sinh học của khả năng sinh sản.
Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, thăm khám sớm khi có dấu hiệu bất thường và chủ động tìm kiếm tư vấn y tế khi gặp khó khăn trong việc có con là những việc cần thiết. Các bạn trẻ cần phát hiện nguyên nhân và can thiệp sớm có thể giúp cải thiện cơ hội điều trị để sinh con.
Tại hội nghị, Giáo sư Eileen Manalo - Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội trong chăm sóc người bệnh. Cách tiếp cận toàn diện giúp người bệnh được chuẩn bị tốt hơn, tham gia tích cực hơn vào quá trình điều trị và có thêm sự hỗ trợ cần thiết trong hành trình vốn có thể kéo dài, nhiều áp lực.
Bà Ghislaine Dondellinger - Tổng Giám đốc Merck Healthcare Việt Nam và Thái Lan, chia sẻ, khoa học và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi có thể góp phần giải quyết những nhu cầu sức khỏe thực tế của người bệnh. Trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, mỗi hành trình điều trị là một hành trình riêng, với những nhu cầu, kỳ vọng và hoàn cảnh khác nhau. Vì vậy, việc thúc đẩy trao đổi chuyên môn, cập nhật bằng chứng khoa học và tăng cường hợp tác giữa các chuyên gia có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị.
Hội nghị quy tụ hơn 200 chuyên gia hỗ trợ sinh sản của Việt Nam, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong khuôn khổ hội nghị, các chuyên gia quốc tế chia sẻ những cập nhật mới nhất và thảo luận chuyên sâu về các chủ đề đang được quan tâm trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, bao gồm: Cá thể hóa điều trị hỗ trợ sinh sản, vô sinh nam, tối ưu hóa kết quả làm tổ và thai kỳ, bảo tồn khả năng sinh sản, chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người bệnh, cùng những đổi mới trong y học sinh sản như trí tuệ nhân tạo và các bằng chứng thực hành lâm sàng mới nổi…/.
(Vietnam+)