Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, cùng nhìn lại những trang sử hào hùng tại Côn Đảo - nay là đặc khu thuộc TPHCM. Nơi từng được ví như “địa ngục trần gian” không chỉ ghi dấu tội ác thực dân, mà còn lưu giữ khí tiết lẫm liệt cùng cuộc đấu tranh giành chính quyền của những người tù chính trị trong những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ngày nay, tại xã Đại Ngãi (TP Cần Thơ) vẫn còn một bia lưu niệm hình con thuyền căng buồm vượt biển, ghi dấu nơi hơn 2.000 tù chính trị từ Côn Đảo được đưa về đất liền sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công.
Trong cuốn sử liệu Lịch sử đấu tranh của các chiến sĩ yêu nước và cách mạng nhà tù Côn Đảo (1862-1975) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành, những thời khắc lịch sử của cuộc nổi dậy giành chính quyền tại Côn Đảo được tái hiện qua nhiều tư liệu.
Sự sụp đổ ách cai trị của thực dân Pháp
Đầu năm 1945, trước những thất bại liên tiếp trên chiến trường Viễn Đông, phát xít Nhật ở Đông Dương quyết định đảo chính Pháp. Ngày 6/2/1945, 20 lính Nhật đổ bộ lên Côn Đảo và đóng lại ở đây, bất chấp sự phản đối của lính Pháp.

Cảnh tù nhân lao động khổ sai trong hầm xay lúa ở Nhà tù Côn Đảo dưới chế độ thực dân Pháp (Ảnh: Ngọc Tân).
Đêm ngày 9, rạng sáng 10/3/1945, 2 tàu chiến Nhật được thủy phi cơ yểm trợ đổ thêm một trung đội lính lên Côn Đảo. Lính Nhật nhanh chóng tước toàn bộ vũ khí của đại đội lính Lê dương và của mấy chục cai ngục, bắt giam lính Pháp. Chúa đảo người Pháp là Tisseyre bị nhốt ngay trong buồng ngủ.
Từ thời khắc đó, chính quyền tồn tại hơn 80 năm của thực dân Pháp ở Côn Đảo sụp đổ. Quân Nhật vẫn sử dụng bộ máy cai tù cũ gồm cai ngục người Việt, người Ấn Độ, người Senegal. Chúng đưa Lê Văn Trà, một công chức thân Nhật, lên làm Chúa đảo.
Qua tin tức của những cai ngục người Pháp thuộc phái Charles de Gaulle và những công chức tiến bộ ở Sở Dây thép gió (trạm điện báo không dây), Chi bộ Đảng ở Côn Đảo nắm được những chuyển biến của phong trào cách mạng ở đất liền, cũng như tình hình đang diễn ra trên thế giới. Chi bộ đã ra chỉ thị đến các cơ sở Đảng trên toàn đảo, xác định nhiệm vụ cho cán bộ, đảng viên.
Chỉ thị nhận định: phát xít Đức sắp "tắt thở" ở châu Âu; quân đội Nhật đang thất bại nặng nề ở Viễn Đông, quân đội Đồng minh có thể nhảy vào Đông Dương. Thực dân Pháp có thể sẽ theo gót quân Đồng minh trở lại Đông Dương, giành lại địa vị đã mất.
Trước thất bại không thể tránh khỏi, lực lượng Nhật tổ chức "Lễ trao độc lập" giả hiệu ở Côn Đảo. Trước gần 2.000 tù chính trị, Lê Văn Trà đọc đạo dụ của Bảo Đại, tuyên bố phóng thích tất cả tù chính trị và coi tù chính trị như mọi công dân khác trong nước.

Di tích Trại Phú Tường (Bagne III) thuộc quần thể di tích Nhà tù Côn Đảo (Ảnh: Ngọc Tân).
Tuy nhiên, sau cuộc mít tinh "mừng độc lập", phía Nhật lại đưa những người yêu nước vừa được tuyên bố "trả lại quyền tự do" trở vào các khám. Chỉ có 150 tù nhân thân Nhật được phóng thích sau đó.
Theo sự chỉ đạo của Chi bộ đặc biệt, tù nhân ở bagne (nhà giam) II, bagne III đấu tranh đòi được mở cửa bagne, đòi được ra ngoài làm việc và đòi trả tự do cho tù chính trị. Sau nhiều lần đấu tranh, Lê Văn Trà phải nhượng bộ, cho phần lớn những người yêu nước ra ngoài làm và mở cửa khám từ 6h đến 21h.
Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Côn Đảo
Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh vô điều kiện. Từ ngày 14 đến 28/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước vùng lên tổng khởi nghĩa; Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 25/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Nam Bộ, Sài Gòn.
Tại Côn Đảo, quân Nhật cho tàu chở súng đạn ra đổ xuống biển, phá Sở Dây thép gió, đập phá tất cả radio. Ngày 21/8/1945, phát xít Nhật cho 2 tàu ra Côn Đảo để chở lính Nhật, tù thân Nhật, lính cùng cai ngục người Pháp về đất liền. Được sự đồng ý của Chi bộ đặc biệt, 5 đảng viên theo tàu trở về đợt này.

Khám 9, nơi từng giam giữ nhà cách mạng Tôn Đức Thắng cùng các chiến sĩ kiên trung (Ảnh: Ngọc Tân).
Một đơn vị lính bảo an theo tàu Nhật ra đảo để giữ trật tự trị an. Người sĩ quan chỉ huy đơn vị bảo an là cơ sở của Xứ ủy Nam Kỳ, được Xứ ủy bố trí ra Côn Đảo để liên lạc và hỗ trợ tù chính trị. Một số lính bảo an cũng là quần chúng yêu nước. Do đó, Chi bộ đặc biệt nắm được tình hình Cách mạng Tháng Tám và được biết Xứ ủy Nam Kỳ sẽ ra đón tù chính trị về đất liền.
Chi bộ chủ trương không bạo động để tránh đổ máu vô ích; đoàn kết các lực lượng tù chính trị trên đảo để giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình.
Với đối sách ôn hòa, Chi bộ đặc biệt đã cử một đoàn đại biểu gặp quản đốc Lê Văn Trà, đưa yêu cầu mở cửa trại giam; bỏ hết sự kiểm soát của cảnh sát; trao trả chính quyền trên đảo cho những người yêu nước vì chính quyền trong đất liền đã về tay Việt Minh.
Viện lý do chưa có lệnh của "Chính phủ", Lê Văn Trà không chịu trao chính quyền. Nhưng trước áp lực đấu tranh của những người yêu nước, Trà đồng ý cho tù nhân được tự do đi lại vào ban ngày, ban đêm vẫn phải vào khám; đồng ý lập chính quyền liên hiệp trên đảo có sự tham gia của tù chính trị; đồng ý cho những người yêu nước sửa ca nô để đại biểu của đảo có phương tiện về đất liền xin ý kiến.
Chính quyền Côn Đảo quyết định tổ chức lực lượng vũ trang để củng cố thực lực cách mạng và bảo vệ đảo. Đoàn phòng thủ Côn Đảo ra đời vào cuối tháng 8/1945 gồm 300 đội viên, do đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Chi bộ đặc biệt, phụ trách. Hàng ngày, Đoàn phòng thủ luyện tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.
Một ngày đầu tháng 9/1945, qua sóng radio của một đài phát thanh nước ngoài, những người yêu nước ở Côn Đảo nắm được thông tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 2/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội.
Chi bộ Đảng ở Côn Đảo liền tổ chức ngay một cuộc mít tinh chào lá cờ đỏ sao vàng, mừng nước nhà độc lập. Cuộc mít tinh sau đó trở thành cuộc tuần hành biểu dương khí thế cách mạng ở Côn Đảo.
Những chuyến tàu đưa tù chính trị về đất liền
Đêm 25/8/1945, ngay sau khi giành được chính quyền, Xứ ủy Nam Kỳ đã tổ chức cuộc họp có sự tham dự của 2 đảng viên vừa từ Côn Đảo trở về. Cuộc họp quyết định đón tù nhân Côn Đảo và giao cho 2 đồng chí vừa ở Côn Đảo về (Đào Duy Kỳ và Nguyễn Công Trung) phụ trách nhiệm vụ này.
Ủy ban ủng hộ chính trị phạm Côn Đảo được thành lập do đồng chí Đào Duy Kỳ đứng đầu. Việc chuẩn bị tàu thuyền ra Côn Đảo rất khó khăn vì phần lớn tàu to đã bị đánh đắm. Chiếc tàu De Lanessan mà công nhân cảng Sài Gòn kéo về sửa chữa để đưa ra đón tù nhân cũng bị Nhật tịch thu.
Được sự chỉ đạo của Ủy ban Hành chính Nam Bộ, sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng Gò Công, Ủy ban ủng hộ chính trị phạm đã huy động được tàu Phú Quốc cùng nhiều ghe bầu ra đón những người yêu nước từ Côn Đảo về đất liền. Đồng chí Tưởng Dân Bảo được cử là đặc phái viên của Ủy ban Hành chính Nam Bộ ra đón những người yêu nước ở Côn Đảo.

Di tích Bagne II thuộc quần thể di tích Nhà tù Côn Đảo (Ảnh: Ngọc Tân).
Đoàn tàu xuất phát lúc 2h sáng ngày 16/9/1945 tại Cồn Nóc (tỉnh Sóc Trăng cũ), gồm tàu Phú Quốc và 27 ghe. Khi ra đến Côn Đảo, do gặp dông lớn, chỉ có tàu Phú Quốc và 23 ghe biển cập được bến Cỏ Ống (Côn Đảo) vào chiều tối cùng ngày.
Sáng 17/9/1945, phái đoàn của Côn Đảo đã ra tiếp đón và đưa đoàn tàu của phái đoàn Ủy ban Hành chính Nam Bộ về cầu tàu Côn Đảo.
Chiều cùng ngày, cuộc mít tinh được tổ chức tại sân banh Côn Đảo để đón tiếp phái đoàn. Đồng chí Tưởng Dân Bảo đọc Quyết định của Ủy ban Hành chính Nam Bộ về việc đón chính trị phạm Côn Đảo và long trọng tuyên bố: "Từ giờ phút này, Côn Đảo là một mảnh đất của Tổ quốc ta được hoàn toàn tự do và độc lập".
Lê Văn Trà nộp con dấu của Nhà tù Côn Đảo cho đại diện của Ủy ban Hành chính Nam Bộ. Cuộc mít tinh sau đó được chia thành từng đoàn tuần hành qua các ngả đường ở Côn Đảo, hô vang các khẩu hiệu cách mạng: "Việt Nam độc lập muôn năm!", "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!", "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!".
Trong những ngày đợi trở về đất liền, phái đoàn của Ủy ban Hành chính Nam Bộ và những người yêu nước cùng đi viếng mộ, tạc bia cho các đồng chí đã anh dũng nằm lại Côn Đảo. Trong giây phút ấy, mọi người ngậm ngùi tưởng nhớ đến hàng nghìn người con Việt Nam đã hy sinh tại Côn Đảo vì nền độc lập tự do của Tổ quốc.
Được biết, sau khi Chính phủ ra sắc lệnh xây dựng "Quỹ Độc lập" và tổ chức "Tuần lễ vàng", tổ chức Đảng ở Côn Đảo cũng vận động, quyên góp tiền, vàng để hưởng ứng phong trào.

Bia lưu niệm nơi đón đoàn tù chính trị từ Côn Đảo về đất liền tại xã Đại Ngãi, TP Cần Thơ (Ảnh: C.T.V).
Tổ chức Đảng ở Côn Đảo lập danh sách những người được đưa về đất liền, gồm toàn bộ tù chính trị (cả những chính trị phạm người Trung Quốc, người Campuchia, Lào, Thái Lan) cùng những công chức được giác ngộ, tất cả khoảng 2.300 người.
Rạng sáng 23/9/1945, tàu Phú Quốc, 25 thuyền cùng một chiếc ca nô do đồng chí Tôn Đức Thắng điều khiển, đưa khoảng 1.800 người yêu nước chuyến đầu trở về đất liền, còn khoảng 500 người đi chuyến sau.
Chiều 23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng những chiếc thuyền đầu tiên cập bến Đại Ngãi (tỉnh Sóc Trăng cũ). Đảng bộ và nhân dân địa phương thay mặt đồng bào cả nước đón những chiến sĩ kiên cường từ "địa ngục trần gian" trở về.
Trong số tù chính trị trở về đất liền có các đồng chí: Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Mai Chí Thọ... Những người yêu nước tiếp tục tham gia kháng chiến, bước vào cuộc đấu tranh mới của dân tộc, chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai.
Với mưu đồ của thực dân Pháp, ngày 18/4/1946, 3 chiến hạm của Pháp đưa 2 đại đội bộ binh lên chiếm lại Côn Đảo. Chỉ 2 tháng sau khi tái chiếm, thực dân Pháp đã củng cố xong bộ máy hành chính và tổ chức bộ máy cai trị tù nhân, cũng như khôi phục lại Nhà tù Côn Đảo.
Ngày 27/5/1946, chuyến tàu đầu tiên chở khoảng 300 tù nhân chính trị từ đất liền cập bến Côn Đảo. Chế độ nhà tù tại đây tiếp tục tồn tại đến cuối tháng 4/1975.