Bỏ qua điều hướng

Liệu pháp robot cho các bệnh nhân bị bất động sau đột quỵ

Liệu pháp robot cho các bệnh nhân bị bất động sau đột quỵ
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Trong một nghiên cứu điều trị bằng liệu pháp Robot ở 48 bệnh nhân bị bất động sau cơn đột quỵ. Các nhà nghiên cứu Ý nhận thấy rằng: 24 bệnh nhân đã phục hồi dáng đi bình thường và 24 bệnh nhân khác đã phục hồi chức năng bình thường , tuy vẫn tiếp tục được tập đi theo dáng đi của Robot điện cơ trong ...

Trong một nghiên cứu điều trị bằng liệu pháp Robot ở 48 bệnh nhân bị bất động sau cơn đột quỵ. Các nhà nghiên cứu Ý nhận thấy rằng: 24 bệnh nhân đã phục hồi dáng đi bình thường và 24 bệnh nhân khác đã phục hồi chức năng bình thường, tuy vẫn tiếp tục được tập đi theo dáng đi của Robot điện cơ trong vài tháng tiếp theo.

>>> Robot giúp người già

"Sau 2 năm điều trị, nhiều bệnh nhân (đã trải qua điều trị bằng liệu pháp Robot) đã có thể đi bộ mà không cần hỗ trợ, nhưng liệu pháp Robot chỉ được áp dụng trong những trường hợp bệnh tình thực sự nghiêm trọng", theo Bác sĩ Giovanni Morone, trưởng nhóm nghiên cứu, chuyên gia về vật lý trị liệu, và là phó giáo sư tập sự làm việc tại Cơ sở Santa Lucia, Viện Nghiên cứu điều trị và chăm sóc sức khoẻ ở Rome, Ý: "Tuy nhiên ở một số bệnh nhân, liệu pháp Robot dường như không mang lại sự cải thiện đáng kể, cho nên việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho mỗi bệnh nhân là rất quan trọng".

Liệu pháp robot cho các bệnh nhân bị bất động sau đột quỵ

Liệu pháp Robot (điều trị tại bệnh viện trong thời gian 2 năm) chính là thiết bị điện cơ gắn vào chân của bệnh nhân được điều khiển bởi nhà vật lý trị liệu, bằng cách cẩn thận đo lường trạng thái của bệnh nhân và dần xác lập trọng lượng và bước đi bộ cho từng bệnh nhân.

Các bệnh nhân sẽ trải qua 03 bài kiểm tra tiêu chuẩn nhằm đánh giá khả năng di chuyển( đi bộ), bao gồm cả việc thực hiện các hoạt động bình thường hàng ngày; sau đó các bệnh nhân sẽ được phân loại tùy theo mức độ thương tật và chia thành 02 nhóm bệnh nhân: có khả năng di chuyển cao và thấp.

Trong quá trình điều trị, tất cả các bệnh nhân trải qua 03 tháng trị liệu theo lịch với hai buổi trị liệu mỗi ngày, 05 ngày mỗi tuần. Nhóm bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp Robot sẽ tham gia 20 buổi tập luyện tạo dáng đi trong tháng đầu tiên, và sau đó sẽ được tiếp tục điều trị theo các liệu pháp thông thường khác.

Sau 02 năm điều trị, chỉ có những bệnh nhân với mức độ suy giảm vận động nhiều nhất, những người đã trải qua điều trị bằng liệu pháp robot đã có sự cải thiện trong việc đi bộ mà không cần hỗ trợ.

Nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung các lựa chọn điều trị tùy theo mức độ suy giảm vận động, cũng như thời gian phục hồi sau đột quỵ, Bác sĩ Giovanni Morone nói.

Sau đột quỵ, tình trạng bất động khiến nhiều bệnh nhân mất khả năng đi lại, đồng thời phải đối mặt với những hạn chế lớn trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Một nghiên cứu tại Italy đã khảo sát 48 bệnh nhân thuộc nhóm này, nhằm đánh giá khả năng hỗ trợ phục hồi của liệu pháp robot trong những trường hợp suy giảm vận động nghiêm trọng. Kết quả ban đầu cho thấy 24 bệnh nhân phục hồi dáng đi bình thường, trong khi 24 người còn lại khôi phục chức năng bình thường nhưng vẫn tiếp tục luyện tập theo dáng đi do robot điện cơ hỗ trợ. Liệu pháp được triển khai tại bệnh viện trong thời gian hai năm, với thiết bị điện cơ gắn vào chân bệnh nhân và được nhà vật lý trị liệu điều khiển cẩn thận. Thiết bị đo trạng thái vận động từng người, sau đó từng bước thiết lập mức trọng lượng phù hợp cùng nhịp bước đi được điều chỉnh theo khả năng thực tế. Cách tiếp cận này giúp bệnh nhân luyện lại chuyển động đi bộ có kiểm soát, thay vì phải cố gắng thực hiện những bước vượt quá sức chịu đựng hiện tại. Trước khi bắt đầu chương trình, các bệnh nhân trải qua ba bài kiểm tra tiêu chuẩn để đánh giá khả năng di chuyển, bao gồm việc thực hiện những hoạt động thông thường trong đời sống. Dựa trên mức độ thương tật và kết quả kiểm tra, họ được phân loại thành hai nhóm chính, gồm nhóm có khả năng di chuyển cao và nhóm có khả năng di chuyển thấp. Việc phân nhóm cho phép các nhà nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị giữa những bệnh nhân có mức suy giảm vận động khác nhau. Tất cả bệnh nhân tham gia ba tháng trị liệu theo lịch cố định, với hai buổi mỗi ngày và năm ngày luyện tập mỗi tuần. Riêng nhóm sử dụng liệu pháp robot thực hiện 20 buổi luyện dáng đi trong tháng đầu tiên, trước khi chuyển sang tiếp tục điều trị bằng những phương pháp thông thường khác. Lịch tập dày giúp tạo nền tảng vận động ban đầu, sau đó các bài tập truyền thống tiếp tục củng cố khả năng sử dụng chân trong những tình huống gần với sinh hoạt thực tế. Sau hai năm, nhiều bệnh nhân từng sử dụng liệu pháp robot có thể đi bộ mà không cần hỗ trợ, một kết quả đặc biệt đáng chú ý ở nhóm suy giảm vận động nặng. Tuy nhiên, liệu pháp robot chỉ được áp dụng cho những trường hợp bệnh tình thực sự nghiêm trọng, thay vì trở thành lựa chọn mặc định cho mọi người sau đột quỵ. Những bệnh nhân tổn thương nhẹ hơn có thể cần phương pháp khác, phù hợp hơn với khả năng vận động và mục tiêu phục hồi của họ. Bác sĩ Giovanni Morone, trưởng nhóm nghiên cứu, chuyên gia vật lý trị liệu và phó giáo sư tập sự tại Cơ sở Santa Lucia ở Rome, nhấn mạnh sự khác biệt giữa từng bệnh nhân. Theo ông, một số người không cho thấy cải thiện đáng kể sau liệu pháp robot, vì vậy lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho từng trường hợp giữ vai trò rất quan trọng. Nhận định này cho thấy robot không thay thế hoàn toàn chuyên môn y tế, mà hoạt động như công cụ hỗ trợ trong một chương trình phục hồi được cá nhân hóa. Điểm đáng chú ý của nghiên cứu nằm ở việc lợi ích rõ rệt nhất xuất hiện ở những bệnh nhân bị suy giảm vận động nhiều nhất. Sau quá trình điều trị, chính nhóm này cải thiện khả năng đi bộ không cần hỗ trợ, trong khi hiệu quả ở các nhóm khác không đồng đều như nhau. Kết quả cũng gợi ý rằng mức độ tổn thương ban đầu có thể ảnh hưởng đến cách bệnh nhân đáp ứng với robot, dù nghiên cứu chưa biến thiết bị thành giải pháp phù hợp cho mọi người. Các nhà nghiên cứu Italy dự kiến tập trung vào những lựa chọn điều trị được điều chỉnh theo mức độ suy giảm vận động và thời gian phục hồi sau đột quỵ. Hướng nghiên cứu này có thể giúp bác sĩ xác định bệnh nhân nào nên dùng robot, thời điểm nào phù hợp, đồng thời kết hợp thiết bị với các liệu pháp truyền thống hiệu quả hơn. Với dữ liệu hiện có, liệu pháp robot mở ra hy vọng đáng kể cho người mất khả năng đi lại, nhưng quyết định điều trị vẫn cần dựa trên đánh giá riêng của từng bệnh nhân.