Bỏ qua điều hướng

Máy ép cọc thủy lực thông minh đạt hiệu quả cao

Máy ép cọc thủy lực thông minh đạt hiệu quả cao
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Với sáng chế máy ép cọc thủy lực thông minh, ông Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1956, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi đã giành giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ IV, năm 2011. Ông Nguyễn Văn Sáu giới thiệu về mô hình máy ép cọc thuỷ lực. Chiếc máy ép cọc thủy lực thô...

Với sáng chế máy ép cọc thủy lực thông minh, ông Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1956, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi đã giành giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ IV, năm 2011.

Ông Nguyễn Văn Sáu giới thiệu về mô hình máy ép cọc thuỷ lực.
Ông Nguyễn Văn Sáu giới thiệu về mô hình máy ép cọc thuỷ lực.

Chiếc máy ép cọc thủy lực thông minh (còn được ông Sáu gọi với một cái tên khác là "Robot ép cọc") đã được ông nghiên cứu, chế tạo thành công và đưa vào hoạt động mang lại hiệu quả cao trong lĩnh vực thi công, xây dựng các công trình nhà cao tầng từ tháng 4/2010.

Từ trước đến nay, ngành công nghiệp chế tạo máy xây dựng ở Việt Nam vẫn chưa chế tạo được máy ép cọc thủy lực mà vẫn phải nhập và sử dụng các máy của nước ngoài để ép cọc, thi công nền, móng các công trình nhà cao tầng, hiện đại.

Nhiều năm trước, ông Sáu cùng các công nhân của công ty chỉ chuyên nhận làm ép cọc bêtông thủ công, cung cấp cho các nhà thầu xây dựng ở địa bàn các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn.

Mỗi khi đảm nhận một công trình, ông đã phải huy động rất nhiều công nhân làm việc, nhưng hiệu quả thường không cao và cũng khó đảm bảo tiến độ. Do đó, ông Sáu đã trăn trở, suy nghĩ để thiết kế, chế tạo ra một loại máy ép được số lượng cọc bêtông lớn, phù hợp với mọi điều kiện địa tầng và giá rẻ, tiện dụng hơn, thay thế cho loại máy nhập ngoại. Sau nhiều ngày nghiên cứu, tìm tòi, ông Sáu đã chế tạo thành công chiếc máy ép cọc thủy lực thông minh đầu tiên ở Việt Nam.

Máy ép cọc thông minh - "Robot ép cọc" của ông Sáu được thiết kế gồm có chân đế, giá ép, hệ thống nâng hạ cần cẩu, hệ thống thủy lực, hệ thống điện..., có các tính năng cẩu cọc, ép cọc, di chuyển, đổi hướng cơ động. Chiếc máy nặng khoảng 400 tấn (có thể thiết kế tăng thêm trọng lượng tới 1.000 tấn, tùy theo yêu cầu thi công của các nhà thầu) và ép được 400 tấn lực động (tương đương 180 tấn lực tĩnh).

Máy được điều khiển có thể tự động quay 180 độ, đi bước tiến và lùi với khoảng cách 3,5m mỗi bước, đi ngang được khoảng cách 1m mỗi bước mà không làm lún đất. Máy có cẩu tự hành gắn liền, bộ nguồn chạy điện, bơm thủy lực...

Giá thành để chế tạo máy khoảng 5 tỷ đồng (chỉ bằng 70% giá thành máy nhập ngoại). Số lượng cọc và chiều sâu cọc ép được trung bình trong một ngày cao gấp khoảng 10 lần so với phương pháp ép thủ công; so với các máy nhập ngoại thì loại máy này cũng có trọng lượng và áp lực nén cao hơn.

Máy ép cọc thủy lực do ông Sáu thiết kế thích hợp với thi công ép các loại cọc tròn, cọc vuông, cọc chữ H ở mọi loại địa hình và độ dài của cọc không bị hạn chế. Khi thi công, máy ép cọc ít gây tiếng ồn, không gây ô nhiễm và chấn động môi trường xung quanh nên phù hợp cho thi công xây dựng các công trình ở khu vực thành thị, khu vực có quy định giới hạn về chấn động như gần các tòa nhà cũ, yếu, nền địa tầng yếu.

Năm 2011, ông Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1956, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thành Lợi, giành giải nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bắc Giang lần thứ IV. Giải thưởng ghi nhận một sáng chế giàu tính thực tiễn: máy ép cọc thủy lực thông minh, còn được ông Sáu gọi bằng cái tên gần gũi “Robot ép cọc”. Thiết bị này được ông nghiên cứu, chế tạo thành công, đưa vào hoạt động từ tháng 4/2010, phục vụ hiệu quả việc thi công nền móng cho các công trình nhà cao tầng. Trước thời điểm đó, ngành công nghiệp chế tạo máy xây dựng Việt Nam chưa sản xuất được máy ép cọc thủy lực phù hợp, khiến các nhà thầu phải nhập thiết bị nước ngoài. Những máy nhập khẩu thường phục vụ việc ép cọc, thi công nền móng cho các công trình hiện đại, nhưng chi phí cao và chưa chắc đáp ứng thuận tiện mọi điều kiện thi công trong nước. Thực tế ấy thôi thúc ông Sáu tìm một hướng chế tạo trong nước, vừa hiệu quả, vừa phù hợp hơn với nhu cầu xây dựng của các địa phương. Nhiều năm trước, ông Sáu cùng công nhân Công ty Thành Lợi chủ yếu nhận ép cọc bê tông thủ công cho các nhà thầu tại Bắc Giang, Bắc Ninh và Lạng Sơn. Mỗi công trình đòi hỏi huy động rất nhiều người, trong khi năng suất thường thấp, tiến độ khó bảo đảm, công sức và chi phí vì thế cũng tăng lên đáng kể. Từ những trải nghiệm trực tiếp ấy, ông bắt đầu trăn trở về một thiết bị có thể ép số lượng lớn cọc bê tông, làm việc trên nhiều loại địa tầng, đồng thời có giá thành dễ tiếp cận. Sau nhiều ngày nghiên cứu và tìm tòi, ông Sáu đã chế tạo thành công chiếc máy ép cọc thủy lực thông minh đầu tiên tại Việt Nam. Máy được thiết kế với nhiều bộ phận chính, gồm chân đế, giá ép, hệ thống nâng hạ cần cẩu, hệ thống thủy lực và hệ thống điện. Sự kết hợp này giúp thiết bị đảm nhiệm liên tiếp các công việc cẩu cọc, ép cọc, di chuyển và đổi hướng, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào nhân lực cùng nhiều thiết bị rời rạc. Với trọng lượng khoảng 400 tấn, máy có thể được thiết kế tăng lên tới 1.000 tấn tùy yêu cầu thi công của từng nhà thầu. Thiết bị tạo lực ép động 400 tấn, tương đương 180 tấn lực tĩnh, tạo khả năng xử lý những hạng mục nền móng đòi hỏi sức ép lớn. Các thông số này cho thấy “Robot ép cọc” không chỉ hướng tới thay thế lao động thủ công, mà còn phục vụ những công trình có quy mô và yêu cầu kỹ thuật cao. Khả năng cơ động là điểm đáng chú ý của sáng chế, khi máy có thể tự động quay 180 độ, tiến hoặc lùi 3,5 mét mỗi bước, đồng thời di chuyển ngang một mét mỗi bước mà không làm lún đất. Máy còn tích hợp cẩu tự hành, bộ nguồn chạy điện và bơm thủy lực, giúp quá trình thi công gọn hơn, liên tục hơn. Nhờ cấu tạo ấy, người vận hành có thể đưa thiết bị đến vị trí cần ép, điều chỉnh hướng di chuyển, rồi tiếp tục công việc mà không phải tháo lắp phức tạp. Chi phí chế tạo máy khoảng 5 tỷ đồng, chỉ bằng 70% giá thành máy nhập ngoại, tạo lợi thế rõ rệt cho các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Trung bình mỗi ngày, máy ép được số lượng và chiều sâu cọc cao khoảng 10 lần phương pháp thủ công, qua đó rút ngắn thời gian thi công đáng kể. So với máy nhập ngoại, thiết bị của ông Sáu cũng có trọng lượng và áp lực nén cao hơn, trong khi vẫn được phát triển theo điều kiện sử dụng tại Việt Nam. Máy phù hợp với nhiều loại cọc, gồm cọc tròn, cọc vuông và cọc chữ H, có thể hoạt động trên nhiều dạng địa hình, còn chiều dài cọc ép không bị hạn chế. Trong quá trình vận hành, thiết bị ít gây tiếng ồn, không tạo ô nhiễm và hạn chế chấn động ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Vì vậy, sáng chế đặc biệt thích hợp tại khu vực đô thị, nơi có quy định nghiêm ngặt về chấn động, cũng như gần những tòa nhà cũ, công trình yếu hoặc vùng có nền địa tầng yếu.