5 mô hình nông nghiệp bền vững đã được đề xuất để xây dựng trên diện tích đất phèn, đất phèn nhiễm mặn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng điều kiện sống của dân cư tại địa phương. Trồng lan ở Bình Chánh, TP.HCM (Ảnh: Cao Xuân Vinh) Đó là 5 mô hình trong báo cáo nghiệm thu ngày 30/7 của T...
5 mô hình nông nghiệp bền vững đã được đề xuất để xây dựng trên diện tích đất phèn, đất phèn nhiễm mặn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng điều kiện sống của dân cư tại địa phương.
Trồng lan ở Bình Chánh, TP.HCM (Ảnh: Cao Xuân Vinh)
Đó là 5 mô hình trong báo cáo nghiệm thu ngày 30/7 của TS Trần Viết Mỹ và cộng sự, thuộc trung tâm khuyến nông TP.HCM, về “nghiên cứu xây dựng mô hình nông nghiệp bền vững trên vùng đất phèn, đất nhiễm mặn ở hai xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và Nhơn Đức, huyện Nhà Bè” .
Theo đó, có 2 mô hình mang tính kế thừa là mô hình nuôi cá ghép ở ấp 3, xã Tân Nhựt, và mô hình nuôi heo kết hợp nuôi cá và trồng cây ăn trái. Ngoài ra, còn có 3 mô hình được xây dựng mới gồm mô hình nuôi cá cảnh, mô hình nuôi luân canh tôm sú với tôm càng xanh theo tiêu chuẩn VietGap, và mô hình lan cắt cành.
Nghiên cứu cũng cho thấy, việc áp dụng, triển khai và nhân rộng các mô hình trên đến năm 2012, thu nhập của mỗi hộ tăng 1,5 lần so với bình quân toàn huyện. Tuy nhiên, để hình thành các tập đoàn sinh thái như trên cần duy trì, giữ gìn môi trường nước, hình thành chuỗi liên kết sản xuất với tiêu thụ, gắn liền hoạt động sản xuất với bảo vệ môi trường và tôn tạo cảnh quan.
Trên những vùng đất phèn, đất phèn nhiễm mặn vốn gây nhiều trở ngại cho sản xuất, một hướng đi mới đang được đề xuất nhằm cải thiện thu nhập và đời sống người dân địa phương.
Thay vì chỉ tập trung vào một loại cây hoặc con nuôi, nhóm nghiên cứu đưa ra năm mô hình nông nghiệp bền vững, kết hợp nhiều hoạt động phù hợp điều kiện tự nhiên.
Các mô hình này được xây dựng tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, và xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đất đai chịu ảnh hưởng rõ rệt của phèn và mặn.
Đề xuất nằm trong báo cáo nghiệm thu ngày 30/7 do Tiến sĩ Trần Viết Mỹ cùng các cộng sự thuộc Trung tâm Khuyến nông Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.
Công trình mang tên “Nghiên cứu xây dựng mô hình nông nghiệp bền vững trên vùng đất phèn, đất nhiễm mặn ở hai xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và Nhơn Đức, huyện Nhà Bè”.
Mục tiêu chính không chỉ là tạo thêm sinh kế, mà còn xây dựng phương thức sản xuất có khả năng duy trì lâu dài trên những khu vực nhiều hạn chế.
Trong năm mô hình được giới thiệu, hai mô hình đầu tiên mang tính kế thừa từ cách làm đã có tại địa phương, sau đó được nghiên cứu, điều chỉnh để phát huy hiệu quả.
Mô hình thứ nhất là nuôi cá ghép tại ấp 3, xã Tân Nhựt, tận dụng mặt nước để kết hợp nhiều loài cá trong cùng hệ thống sản xuất.
Cách nuôi này giúp người dân đa dạng hóa nguồn thu, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào một đối tượng thủy sản duy nhất khi điều kiện môi trường thay đổi.
Mô hình kế thừa thứ hai kết hợp nuôi heo, nuôi cá và trồng cây ăn trái trong cùng một khu sản xuất, tạo nên sự liên kết giữa các hoạt động chăn nuôi và trồng trọt.
Chất thải từ hoạt động này có thể được xử lý, tận dụng phù hợp cho hoạt động khác, qua đó hướng tới cách sử dụng tài nguyên tiết kiệm hơn.
Mô hình tổng hợp cũng mở ra khả năng phân tán rủi ro, bởi hộ dân không phải đặt toàn bộ thu nhập vào riêng vật nuôi hoặc cây trồng nào.
Bên cạnh những mô hình kế thừa, nhóm nghiên cứu xây dựng thêm ba mô hình mới, gồm nuôi cá cảnh, nuôi luân canh tôm sú với tôm càng xanh theo tiêu chuẩn VietGAP.
Mô hình còn lại là trồng lan cắt cành, hướng đến nhóm sản phẩm có giá trị kinh tế và phù hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp đô thị.
Hình ảnh trồng lan tại Bình Chánh cho thấy vùng đất từng bị xem là khó canh tác vẫn có thể được khai thác bằng lựa chọn sản phẩm thích hợp.
Nuôi cá cảnh tạo thêm một hướng sản xuất khác biệt so với nuôi cá thương phẩm truyền thống, trong khi mô hình tôm sú, tôm càng xanh chú trọng cách luân canh.
Việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong mô hình luân canh nhằm định hướng quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát chất lượng và phù hợp yêu cầu phát triển bền vững.
Mỗi mô hình có cách tiếp cận riêng, nhưng cùng hướng đến mục tiêu sử dụng hiệu quả đất đai, mặt nước và sức lao động của hộ dân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu được áp dụng, triển khai và nhân rộng đến năm 2012, các mô hình có thể giúp thu nhập mỗi hộ tăng 1,5 lần so với mức bình quân toàn huyện.
Con số này cho thấy sản xuất trên đất phèn, đất phèn nhiễm mặn không nhất thiết chỉ gắn với năng suất thấp, nếu người dân có mô hình phù hợp và được hướng dẫn đầy đủ.
Hiệu quả kinh tế dự kiến cũng tạo thêm động lực để địa phương tổ chức sản xuất theo hướng đa dạng, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào những phương thức kém thích nghi.
Tuy nhiên, lợi ích của các mô hình chỉ bền vững khi môi trường nước được duy trì, giữ gìn và kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất.
Địa phương cũng cần hình thành chuỗi liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, để sản phẩm làm ra có đầu ra ổn định, người dân giảm nguy cơ bị động về thị trường.
Khi sản xuất gắn với bảo vệ môi trường và tôn tạo cảnh quan, những mô hình riêng lẻ mới có thể phát triển thành các tập đoàn sinh thái phù hợp vùng đất phèn.