Bỏ qua điều hướng

Mở hướng làm giàu cho nông dân

Mở hướng làm giàu cho nông dân
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Mô hình nuôi chồn vòi hương đang mở ra hướng sản xuất mới tại Gia Lai khi một số hộ mạnh dạn đầu tư, phát triển đàn nuôi quy mô lớn, mang lại lợi nhuận từ vài trăm triệu đồng đến khoảng 1 tỷ đồng mỗi năm. Từ những hộ nuôi thử nghiệm ban đầu, kinh nghiệm đang được chia sẻ, giúp nông dân có thêm lựa c...

Mạnh dạn chọn vật nuôi mới

Năm 2018, sau khi tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc và nhu cầu thị trường, ông Đặng Văn Tân, hội viên nông dân thôn Vạn Định, xã Phù Mỹ Bắc quyết định đầu tư nuôi chồn vòi hương. Ông Tân xây dựng chuồng trại thông thoáng, có ánh sáng tự nhiên, nuôi riêng từng con; đồng thời đăng ký cơ sở nuôi động vật hoang dã theo quy định, bảo đảm vệ sinh môi trường và phòng dịch bệnh.

Ông Tân cho biết, chồn vòi hương có sức đề kháng khá tốt nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật. Thức ăn chủ yếu gồm chuối chín, cá rô phi, thịt, kết hợp bổ sung khoáng chất, vitamin. Chi phí thức ăn bình quân khoảng 2.000-3.000 đồng/con/ngày. Chồn vòi hương có thể sinh sản khoảng 2 lứa/năm, mỗi lứa 3-4 con.

Trong thời gian mang thai, người nuôi cần giữ chuồng yên tĩnh, chú ý dinh dưỡng và bổ sung can-xi cho con mẹ. Sau nhiều năm phát triển đàn, mô hình mang lại cho gia đình ông Tân lợi nhuận hơn 500 triệu đồng/năm từ bán chồn giống và chồn thương phẩm.

Tại xã Đak Pơ, ông Đào Sơn Hải cũng là một trong số các hộ phát triển mô hình với quy mô lớn. Từ 12 con giống ban đầu, đến nay đàn chồn của gia đình ông đã tăng lên hơn 300 con, trong đó hơn 100 con sinh sản, mang lại lợi nhuận khoảng 1 tỷ đồng/năm.

Giá chồn giống hiện khoảng 7-15 triệu đồng/cặp, trong khi chồn thương phẩm có giá khoảng 1,3-1,6 triệu đồng/kg. Với những hộ có đàn sinh sản ổn định, việc chủ động con giống giúp tạo thêm nguồn thu bên cạnh bán chồn thương phẩm.

Tại xã Hội Sơn, anh Võ Văn Thuận cũng phát triển đàn chồn gần 200 con. Theo kinh nghiệm của anh, vệ sinh chuồng trại và bảo đảm dinh dưỡng là những yếu tố quan trọng để vật nuôi phát triển ổn định, hạn chế bệnh đường ruột và duy trì khả năng sinh sản.

Những kết quả trên cho thấy chồn vòi hương có thể mang lại hiệu quả kinh tế nếu người nuôi nắm vững kỹ thuật, chủ động nguồn giống và có đầu ra phù hợp. Tuy nhiên, đây không phải mô hình có thể mở rộng theo phong trào.

Giá con giống khá cao khiến vốn đầu tư ban đầu lớn; chọn giống không phù hợp hoặc chăm sóc không đúng kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi. Bên cạnh đó, người dân phải tuân thủ các quy định về nuôi động vật hoang dã, từ đăng ký cơ sở nuôi đến quản lý nguồn gốc con giống.

Lan tỏa kinh nghiệm nuôi

Từ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, ông Tân thường xuyên chia sẻ kỹ thuật chăm sóc, phòng bệnh và phát triển đàn cho những nông dân có nhu cầu tìm hiểu mô hình. Việc được tham quan thực tế, trao đổi trực tiếp với người đã nuôi thành công giúp các hộ có thêm cơ sở trước khi quyết định đầu tư.

Ông Đặng Thanh Hải, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phù Mỹ Bắc cho biết: Mô hình nuôi chồn vòi hương của hội viên Đặng Văn Tân là một trong những mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hội Nông dân xã sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động hội viên học tập các mô hình phù hợp, đồng thời phối hợp tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học-kỹ thuật và hỗ trợ kết nối tiêu thụ sản phẩm để góp phần nâng cao thu nhập cho hội viên, nông dân.

Để mô hình phát triển ổn định, việc nhân rộng cần gắn với chuyển giao kỹ thuật, quản lý nguồn giống và kết nối thị trường. Đây cũng là những yếu tố giúp người dân hạn chế rủi ro khi mở rộng quy mô.

Từ 12 con giống ban đầu của ông Hải đến đàn hàng trăm con, hay từ mô hình của ông Tân đến những hộ đang tìm hiểu và học hỏi, chồn vòi hương đang cho thấy thêm một lựa chọn trong quá trình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tại Gia Lai.

Nếu được đầu tư phù hợp, kiểm soát tốt kỹ thuật, đầu ra và các yêu cầu pháp lý, mô hình có thể tiếp tục tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và mở ra hướng phát triển mới cho những hộ nông dân mạnh dạn chuyển đổi vật nuôi có giá trị kinh tế cao.

Bài và ảnh: QUỐC THÁI

Năm 2018, sau thời gian tìm hiểu kỹ thuật chăm sóc cùng nhu cầu thị trường, ông Đặng Văn Tân ở thôn Vạn Định, xã Phù Mỹ Bắc, mạnh dạn đầu tư nuôi chồn vòi hương. Lựa chọn vật nuôi còn khá mới mẻ này xuất phát từ mong muốn tìm hướng sản xuất phù hợp, tạo thêm thu nhập thay vì chỉ phụ thuộc những mô hình quen thuộc. Để đàn chồn phát triển, ông xây dựng chuồng trại thông thoáng, có ánh sáng tự nhiên, đồng thời nuôi riêng từng con nhằm thuận tiện theo dõi sức khỏe và chăm sóc. Ông Tân đăng ký cơ sở nuôi động vật hoang dã theo quy định, chú trọng vệ sinh môi trường, phòng dịch bệnh và kiểm soát điều kiện chăn nuôi ngay từ đầu. Theo kinh nghiệm của ông, chồn vòi hương có sức đề kháng khá tốt nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật, giữ môi trường nuôi ổn định và bảo đảm dinh dưỡng. Thức ăn hằng ngày chủ yếu gồm chuối chín, cá rô phi, thịt, kết hợp bổ sung khoáng chất, vitamin, với chi phí bình quân khoảng 2.000-3.000 đồng mỗi con. Chồn vòi hương có thể sinh sản khoảng hai lứa mỗi năm, mỗi lứa từ ba đến bốn con, mở ra khả năng tăng đàn nếu người nuôi quản lý tốt. Trong thời gian mang thai, chồn mẹ cần được nuôi ở nơi yên tĩnh, chăm sóc dinh dưỡng phù hợp và bổ sung can-xi để bảo đảm sức khỏe. Sau nhiều năm phát triển đàn, mô hình giúp gia đình ông Tân thu lợi nhuận hơn 500 triệu đồng mỗi năm từ việc bán chồn giống và chồn thương phẩm. Tại xã Đak Pơ, ông Đào Sơn Hải cũng xây dựng mô hình với quy mô lớn, bắt đầu từ 12 con giống rồi phát triển thành đàn hơn 300 con. Trong tổng đàn hiện nay, hơn 100 con đang sinh sản, giúp gia đình ông Hải chủ động nguồn giống và đạt lợi nhuận khoảng 1 tỷ đồng mỗi năm. Giá chồn giống hiện dao động khoảng 7-15 triệu đồng một cặp, còn chồn thương phẩm được bán với mức khoảng 1,3-1,6 triệu đồng mỗi kilôgam. Khi có đàn sinh sản ổn định, người nuôi không chỉ bán chồn thương phẩm mà còn tạo thêm nguồn thu từ việc cung cấp con giống cho các hộ khác. Tại xã Hội Sơn, anh Võ Văn Thuận cũng phát triển đàn chồn gần 200 con, tích lũy kinh nghiệm qua quá trình chăm sóc và theo dõi vật nuôi. Anh cho rằng vệ sinh chuồng trại cùng bảo đảm dinh dưỡng giữ vai trò quan trọng, giúp hạn chế bệnh đường ruột và duy trì khả năng sinh sản ổn định. Những kết quả từ các hộ nuôi cho thấy chồn vòi hương có thể đem lại hiệu quả kinh tế nếu người dân nắm vững kỹ thuật, chủ động giống và tìm được đầu ra phù hợp. Tuy nhiên, đây không phải mô hình có thể mở rộng theo phong trào, bởi giá con giống khá cao khiến vốn đầu tư ban đầu trở thành rào cản đáng kể. Việc chọn giống không phù hợp, chăm sóc sai kỹ thuật hoặc thiếu tính toán thị trường đều có thể làm giảm hiệu quả, thậm chí khiến người nuôi chịu rủi ro lớn. Bên cạnh yêu cầu kỹ thuật, người dân phải tuân thủ các quy định về nuôi động vật hoang dã, từ đăng ký cơ sở đến quản lý nguồn gốc con giống. Từ kinh nghiệm tích lũy nhiều năm, ông Tân thường xuyên chia sẻ cách chăm sóc, phòng bệnh và phát triển đàn với những nông dân đang quan tâm mô hình. Việc tham quan thực tế, trao đổi trực tiếp cùng người nuôi thành công giúp các hộ có thêm thông tin trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư. Ông Đặng Thanh Hải, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phù Mỹ Bắc, đánh giá mô hình của hội viên Đặng Văn Tân là một trong những mô hình đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo ông Hải, Hội Nông dân xã sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động hội viên học hỏi mô hình phù hợp, đồng thời phối hợp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật. Hội cũng hướng tới hỗ trợ kết nối tiêu thụ sản phẩm, để việc nhân rộng gắn với quản lý giống, kiểm soát rủi ro và xây dựng thị trường bền vững. Từ 12 con giống ban đầu của ông Hải đến đàn hàng trăm con, chồn vòi hương đang trở thành thêm một lựa chọn trong quá trình đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tại Gia Lai. Nếu được đầu tư đúng mức, kiểm soát tốt kỹ thuật, đầu ra và yêu cầu pháp lý, mô hình có thể tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân. Theo bài và ảnh của Quốc Thái trên báo Nhân Dân, câu chuyện này cho thấy sự mạnh dạn chuyển đổi vật nuôi, khi đi cùng kiến thức và tính toán thận trọng, có thể mở hướng làm giàu mới.